Thứ Sáu, 2 tháng 9, 2016

5 Phút cho Lời Chúa 2/9/2016

Filled under:

ĐỔI MỚI THEO CÁCH CỦA CHÚA
“Rượu mới đổ vào bầu da mới.” (Lc 5,38)
Suy niệm: Đức Hồng Y Lustiger, tổng giám mục Paris (+2007), được ca ngợi như là “người của truyền thống và của canh tân… Ngài đã thành công lớn trong việc tổ chức ngày Quốc Tế Giới Trẻ năm 1997, biểu tượng cho sự đổi mới không mặc cảm trong Giáo Hội...” (x. Vietcatholic 8.8.2007). Những nhận xét trên về Đức Hồng Y Lustiger như một minh hoạ cho sứ điệp Tin Mừng hôm nay. Đổi mới để thích nghi và đáp ứng cho hoàn cảnh mới là qui luật tất yếu của cuộc sống và mọi cơ chế, nếu ta không muốn phá hư cả ‘rượu’ lẫn ‘bầu da’. Đức Giê-su xuất hiện trong tôn giáo và xã hội Do Thái như một nhà canh tân triệt để; và theo cha A. de Mello: “Người đã bị từ khước không phải vì Người mang đến tin mừng mà vì Người mang đến tin mới mẻ”.
Mời Bạn: Dĩ nhiên, khẩu hiệu “đổi mới” có thể dễ bị lạm dụng và gây ra những xáo trộn không cần thiết. ‘Nhân đức đứng giữa’, tức trung dung, có vai trò quan trọng ở đây, như câu ngạn ngữ La-tinh: “Virtus in medio stat.” Là Ki-tô hữu, ta không đứng bên lề, nhưng trong lòng xã hội. Ta cố gắng thích nghi với những dấu chỉ mới của thời đại, nhưng đồng thời cũng không tối mặt ‘vơ’ hết những trào lưu mà xã hội hôm nay ‘tọng’ cho mình (x. Thư gởi Đi-ô-nhê-tê).
Chia sẻ: Giáo xứ hay cộng đoàn bạn cần đổi mới những gì? Đâu là điểm cốt lõi của việc đổi mới? Dùng phương cách nào? Đâu là những thuận lợi và bất lợi? 
Sống Lời Chúa: Dùng việc xét mình cá nhân hoặc lượng giá tập thể để nhận ra đâu là điều cần đổi mới.
Cầu nguyện: Lạy Chúa, xin biến đổi con mỗi ngày, để con có thể góp phần biến đổi thế giới xung quanh mình trong Ánh Sáng của Chúa. Amen.

Chân Phước John Francis Burté và Đồng Bạn
(k. 1792; d.1794)
Các linh mục này là nạn nhân của cuộc Cách Mạng Pháp. Mặc dù họ tử đạo trong thời gian khác nhau, nhưng được Giáo Hội mừng kính cùng một lúc vì tất cả đã hy sinh mạng sống với cùng một lý do. Hiến Chương Dân Sự về Tu Sĩ (1791) của nhà cầm quyền buộc tất cả các linh mục phải tuyên thệ những điều chung qui là chối bỏ đức tin. Họ đã từ chối và đã bị hành quyết.

John Francis Burté gia nhập dòng Phanxicô lúc 16 tuổi và sau khi thụ phong linh mục ngài dạy thần học cho các đệ tử sinh. Sau này ngài là giám đốc tu viện lớn ở Balê cho đến khi ngài bị bắt và bị giam trong tu viện dòng Camêlô.

Appolinaris Posat sinh năm 1739 ở Thụy Điển. Ngài gia nhập dòng Capuchin và nổi tiếng là một người thuyết giảng, một cha giải tội và nhà giáo dục các tu sĩ. Được sai sang Đông Phương để truyền giáo, ngài đến Balê để học các ngôn ngữ Đông Phương khi cuộc Cách Mạng Pháp bắt đầu. Từ chối không chịu tuyên thệ, ngài bị bắt và bị giam trong tu viện Camêlô.

Severin Girault, một người Dòng Ba, là tuyên uý cho một số các nữ tu ở Balê. Bị cầm tù với những người khác, ngài là người đầu tiên bị chết trong cuộc tàn sát ở tu viện.

Ba vị này cùng với 182 người khác -- kể cả vài giám mục và nhiều linh mục dòng cũng như triều -- đã bị thảm sát tại tu viện Camêlô ở Balê ngày 2 tháng Chín, 1792. Tất cả được phong chân phước vào năm 1926.

John Baptist Triquerie, sinh năm 1737, gia nhập Đan Viện Phanxicô. Ngài là tuyên uý và là cha giải tội cho các tu sĩ dòng Thánh Clara Khó Nghèo trong ba thành phố trước khi ngài bị bắt vì không chịu tuyên thệ. Cùng với 13 linh mục triều, ngài bị chém đầu ở Laval ngày 21 tháng Giêng 1794. Ngài được phong chân phước năm 1955.

Lời Bàn
"Tự Do, Bình Đẳng, Huynh Đệ" là châm ngôn của cuộc Cách Mạng Pháp. Nếu mỗi cá nhân có "các quyền lợi không thể thay đổi", như Bản Tuyên Ngôn Độc Lập khẳng định, thì những quyền này không thể xuất phát từ những thoả ước của xã hội (có thể rất mong manh) nhưng phải được phát xuất trực tiếp từ Thiên Chúa. Chúng ta có tin điều đó không? Chúng ta có hành động theo điều đó không?

Lời Trích
"Biến động xảy ra ở Pháp vào cuối thế kỷ 18 đã tàn phá mọi sự thiêng liêng và đã xúc phạm cũng như trút sự tức giận lên Giáo Hội và các mục tử. Những người vô đạo đức lên nắm quyền đã che đậy sự giận dữ Giáo Hội dưới chiêu bài triết lý lừa bịp... Dường như thời bách hại tiên khởi đã trở lại. Giáo Hội, nàng dâu không tì vết của Đức Kitô, trở nên lộng lẫy với các triều thiên tử đạo" (Sử Liệu Tử Đạo).

Khuôn Mặt Giuđa

Một trong những giai thoại nổi tiếng nhất trong lịch sử hội họa đó là câu chuyện danh họa Leonardo da Vinci đi tìm người mẫu để họa khuôn mặt của Giuđa, kẻ phản bội.
Leonardo đang miệt mài trong bức tranh "Bữa Ăn Cuối Cùng" của Chúa Giêsu với các môn đệ. Tất cả các khuôn mặt, từ Chúa Giêsu đến các môn đệ, đều đã hiện nguyên hình trên khung vải.
Người được chọn làm người mẫu cho Giuđa nhìn nhà danh họahồi lâu.
Chúng ta thường nói: khi yêu thì trái ấu cũng tròn... Trong một lá thư tình nào đó, có lẽ hai người yêu nhau sẽ nói với nhau: không có anh, không có em, đất trời như vô nghĩa. Tình yêu có tính sáng tạo.
Tin và yêu là hai động tác gắn liền với nhau.
Tomas đã đến với Chúa Giêsu Phục Sinh bằng sự lý luận, uyên bác của một nhà khoa học: "Nếu tôi không xỏ ngón tay tôi vào lỗ đinh và vào cạnh sường của Ngàì. Tôi không tin". Thái độ này rất phù hợp với tinh thần khoa học. Trong công cuộc nghiên cứu khoa học, người ta quan sát, đưa ra giả thuyết, kiểm chứng, thí nghiệm rồi đi đến kết luận... Phương pháp này hoàn toàn vô giá trị trong tình yêu.
Trong đức tin cũng thế, Thiên Chúa yêu thương chúng ta và Ngài mời gọi chúng ta đi vào tình yêu của Ngài.
Tình yêu đó mời gọi chúng ta vượt lên trên tất cả những lý luận và ngờ vực của chúng ta.

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:37

Thứ Năm, 1 tháng 9, 2016

Đức Thánh Cha Phanxicô, Buổi Triều Kiến Chung Thứ Tư 31/8/2016

Filled under:

Giáo Lý Năm Thánh Thương Xót - Bài 23
" ... Người sẽ giải phóng chúng ta và làm cho chúng ta đứng: 'Hãy chỗi dậy, hãy đến, hãy đứng lên!' Vì Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta thẳng đứng, chứ không thấp hèn - thẳng đứng"
Xin chào anh chị em thân mến!
Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe cho chúng ta thấy một nhân vật nổi bật về đức tin và lòng can đảm của mình. Đó là người đàn bà được Chúa Giêsu chữa cho khỏi bị tình trạng mất máu (xem Mathêu 9:20-22). Lọt vào giữa đám đông ở đằng sau Chúa Giêsu để chạm vào gấu áo của Người, "bà nhủ thầm rằng: 'Tôi chỉ cần chạm đến áo của Người thì tôi sẽ được cứu'"(câu 21). Tin tưởng biết bao! Người đàn bà này đã tỏ ra tin tưởng biết mấy! Bà lập luận như vậy vì bà được tác động bởi lòng tin mạnh mẽ và niềm hy vọng mãnh liệt, để rồi bằng một tác động khôn khéo, bà đã làm theo những gì xuất phát từ cõi lòng của bà. Ước muốn được Chúa Giêsu chữa lành mạnh đến độ khiến bà vượt ra ngoài những qui định của Luật Moisen. Thật vậy, qua nhiều năm tháng, người đàn bà nghèo khổ này không phải chỉ bị bệnh mà còn bị coi như đồ ô uế dơ bẩn, bởi bà bị chứng bệnh loạn huyết (xem Levi 15:19-30). Bởi thế bà bị loại trừ ra khỏi các thứ lễ nghi phụng tự, khỏi đời sống phối ngẫu và khỏi những mối liên hệ bình thường với cận nhân của bà. Thánh ký Marco còn thêm rằng bà đã tìm thày chạy thuốc đủ kiểu, đã tiêu hết tiền bạc mà vẫn tiền mất tật mang, thậm chí bệnh trạng lại càng trở nên tệ hơn nữa. Bà là một người bị xã hội loại trừ. Cần phải lưu ý đến thân phận này - thân phận bị loại trừ - để hiểu được tâm trạng của bà, ở chỗ, bà cảm thấy rằng Chúa Giêsu là vị có thể cứu bà khỏi chứng bệnh ấy cũng như khỏi tình trạng bị loại trừ bà đã trải qua trong nhiều năm trời. Tóm lại bà biết, bà cảm thấy Chúa Giêsu là Đấng có thể cứu bà.
Trường hợp này làm cho người ta suy nghĩ đến vấn đề nữ giới thường được nhận định và biểu hiện như thế nào. Tất cả chúng ta đều cần phải coi chừng, bao gồm cả các cộng đồng Kitô hữu, những quan điểm về nữ tính đang thịnh hành chất chứa những thành kiến và nghi ngại tai hại về phẩm giá bất khả đụng chạm của họ. Bởi thế mà chính các cuốn Phúc Âm đã phục hồi sự thật này và đưa trở về với quan điểm giải phóng. Chúa Giêsu đã khen ngợi đức tin của người đàn bà ấy, người bị mọi người tránh né và đã biến niềm hy vọng của mình thành việc cứu độ. Chúng ta không biết tên của bà, nhưng nhờ mấy giòng diễn tả của Phúc Âm về cuộc gặp gỡ của bà với Chúa Giêsu, cũng đã cho thấy một cuộc hành trình đức tin có thể tái thiết lập sự thật ấy cũng như tính chất cao cả cho phẩm giá của hết mọi người. Chính ở nơi cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu mà con đường giải phóng và cứu độ đã mở ra cho tất cả mọi người, nam cũng như nữ ở mọi nơi và mọi lúc. 
Bài Phúc Âm của Thánh ký Mathêu viết rằng khi người đàn bà này chạm đến áo của Chúa Giêsu thì Người "đã quay lại" và "trông thấy bà" (câu 22), rồi Người nói với bà. Như chúng ta đã nói, vì tình trạng bị loại trừ của mình mà người đàn bà này đã tác động một cách kín đáo, ở đằng sau Chúa Giêsu, bà đã hơi sợ bị trông thấy, bởi bà là một kẻ bị loại trừ. Trái lại, Chúa Giêsu nhìn thấy bà và cái nhìn của Người không phải là một cái nhìn khinh bỉ, ở chỗ Người không nói rằng: "Xéo đi, ngươi là đồ bỏ!" như thể Người nói rằng: "Ngươi là một kẻ cùi hủi, cút đi!" Không, Người không khinh bỉ bà nhưng cái nhìn của Chúa Giêsu là một cái nhìn thương xót và dịu hiền. Người đã biết được những gì xẩy ra và tìm cách gặp gỡ riêng bà là những gì thâm tâm bà đã mong ước. Nghĩa là Chúa Giêsu chẳng những tiếp nhận bà Người còn coi bà xứng đáng với cuộc gặp gỡ này, ở chỗ nói với bà và chú ý tới bà.
Ở tâm điểm của trình thuật này có 3 lần lập lại chữ cứu độ. "Tôi chỉ cần chạm đến áo của Người thì tôi sẽ đươc cứu!". Chúa Giêsu đã quay lại thấy bà mà nói: "'Này con, hãy can đảm, đức tin của con đã cứu con!' Và từ giây phút ấy bà đã được cứu" (câu 21-22). Câu "hỡi con hãy can đảm" là những gì bày tỏ tất cả lòng thương xót Chúa đối với con người đó - cũng như cho hết mọi người bị tẩy chay. Bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy trong lòng mình là chúng ta bị loại trừ bởi tội lỗi của chúng ta, chúng ta đã phạm tội rất nhiều, chúng ta đã phạm tội rất nhiều ... Và Chúa đã nói với chúng ta rằng: "Hãy can đảm! Hãy đến! Cha không coi con là một kẻ bị loại trừ tẩy chay. Hãy can đảm. Con là người con trai, con gái". Đó là những giây phút ân sủng, là giây phút tha thứ, là giây phút bao hàm vào sự sống của Chúa Giêsu, vào sự sống của Giáo Hội. Đó là giây phút thương xót. Hôm nay, với tất cả chúng ta là thành phần tội nhân, cho dù chúng ta là những tội nhân lớn hay nhỏ - dầu sao tất cả chúng ta đều là tội nhân được Chúa bảo: "
Hãy can đảm, hãy đến! Các con không còn bị loại trừ: Cha tha thứ cho các con, Cha ôm lấy các con". Lòng thương xót Chúa là thế. Chúng ta cần phải can đảm mà đến với Ngài, mà xin ơn tha thứ cho các tội lỗi của chúng ta và tiến bước - một cách can đảm, như người phụ nữ này đã làm. Vậy "cứu độ" có nhiều ý nghĩa: trước hết là phục hồi sức khỏe cho người phụ nữ; rồi giải thoát chúng ta khỏi những kỳ thị về xã hội và tôn giáo; ngoài ra, nó còn làm trọn niềm hy vọng bà ôm ấp trong lòng, loại trừ khỏi bà những nỗi sợ hãi và khó chịu. Sau hết, nó phục hồi bà với cộng đồng, giải phóng bà khỏi việc cần phải tác hành một cách kín đáo. Điều cuối cùng này là điều quan trọng, ở chỗ, một con người bị loại trừ bao giờ cũng hành động một cách kín đáo, đôi khi hay suốt cả đời của họ: chúng ta hãy nghĩ đến những người phong cùi vào thời ấy, những con người vô gia cư ngày nay ...; chúng ta hãy nghĩ đến các tội nhân, đến tất cả tội nhân chúng ta: chúng ta luôn làm một cái gì đó kín đáo; chúng ta cần làm một điều gì đó cách kín đáo, vì chúng ta hổ thẹn về những gì chúng ta là .... Người sẽ giải thoát chúng ta khỏi điều ấy, Người sẽ giải phóng chúng ta và làm cho chúng ta đứng: "Hãy chỗi dậy, hãy đến, hãy đứng lên!" Vì Thiên Chúa đã dựng lên chúng ta: Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta thẳng đứng, chứ không thấp hèn - thẳng đứng. Những gì Chúa Giêsu ban tặng là ơn cứu độ trọn vẹn, một ơn cứu độ tái hội nhập đời sống của người đàn bà này vào lãnh giới của tình yêu Thiên Chúa, đồng thời tái thiết lập phẩm vị toàn vẹn của bà cho bà.
Sau hết, không phải là cái áo mà người đàn bà chạm tới đã mang đến ơn cứu độ cho bà, nhưng là lời của Chúa Giêsu, được đón nhận bởi đức tin, có khả năng an ủi bà, chữa lành bà và tái thiết bà vào mối liên hệ với Thiên Chúa cũng như với dân của bà. Chúa Giêsu là nguồn mạch phúc lành duy nhất tuôn chảy các thứ cứu độ cho tất cả mọi người, và đức tin là điều kiện căn bản để lãnh nhận. Chúa Giêsu, một lần nữa, bằng hành vi đầy thương xót của mình, tỏ cho Giáo Hội thấy đường lối phải theo để gặp gỡ hết mọi người, nhờ đó mỗi người có thể được chữa lành về phần xác cũng như về tinh thần và phục hồi phẩm giá của con cái Thiên Chúa. 
https://zenit.org/articles/gen eral-audience-on-how-faith-bri ngs-salvation/
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, chuyển dịch kèm theo nhan đề và những chỗ tự ý nhấn mạnh

Posted By Đỗ Lộc Sơn06:06

SUY NIỆM HẰNG NGÀY - NGÀY 01-09-2016

Filled under:

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca (Lc 5: 1-11)

1 Một hôm, Đức Giê-su đang đứng ở bờ hồ Ghen-nê-xa-rét, dân chúng chen lấn nhau đến gần Người để nghe lời Thiên Chúa.2 Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới.3 Đức Giê-su xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Si-môn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút. Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.4 Giảng xong, Người bảo ông Si-môn: "Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá."5 Ông Si-môn đáp: "Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới."6 Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới.7 Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.

8 Thấy vậy, ông Si-môn Phê-rô sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: "Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi! "9 Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Si-môn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc.10 Cả hai người con ông Dê-bê-đê, là Gia-cô-bê và Gio-an, bạn chài với ông Si-môn, cũng kinh ngạc như vậy. Bấy giờ Đức Giê-su bảo ông Si-môn: "Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta."11 Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.


SUY NIỆM 1

Ông Simon đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì. Ông đã khiêm tốn nói lên sự bất lực của mình với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả. Nhưng dựa vào Lời Thầy, con sẽ thả lưới”. Nhờ vâng Lời Chúa, ông đã chứng kiến một sự kiện phi thường: bắt được một mẻ cá “hầu như rách cả lưới”.

Trước kết quả ngoài sức tưởng tượng này, ông Simon đã “sấp mặt dưới chân Chúa Giêsu và nói: Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”. Kẻ tự nhận mình là tội lỗi bất xứng ấy sau này được Chúa đổi tân là “Phêrô - Đá tảng” của đức tin, mà trên đức tin đó, Hội thánh đã được xây dựng và sẽ tồn tại bền vững đến muôn đời (x.Mt 16, 16-18).

Kể từ lúc đó, tông đồ Phêrô trở thành thủ lãnh của tông đồ đoàn, được Chúa Giêsu trao chìa khóa Nước Trời với quyền cầm buộc và tha thứ (x.Mt 16, 19) và được trao nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên của Người là Hội thánh (x.Ga 21, 15-17).

Tiếp tục ngai tòa giáo hoàng của thánh Phêrô, ý thức trách nhiệm truyền bá đức tin mà Chúa đòi hỏi, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã liên tục ra khơi, chèo ra chỗ nước vừa sâu lại vừa nguy hiểm.

Qua 26 năm làm giáo hoàng, Đức Gioan Phaolô II đã thực hiện 146 chuyến công du bên trong nước Ý (không tính Rôma), 104 chuyến công du ra ngoài nước Ý để thăm viếng hơn 130 quốc gia trên thế giới. Trong số đó, ngài đã tám lần đến các nước Hồi Giáo. Ngài là Giáo hoàng đầu tiên bước vào một ngôi Đền thờ Hồi giáo cổ kính tại Syria, năm 2001.

Tính ra, thánh Gioan Phaolô II đã công du 1.400.607 km, tương đương 28 lần vòng quanh trái đất. Ngoài ra mỗi ngày Ngài còn làm việc đến 18 tiếng đồng hồ…

Ngài đã “chèo” đến những vùng biển nhiều sóng gió: thăm cả những miền đất thù nghịch với Hội Thánh, vào những “miền đất thánh” của Phật giáo, Ấn giáo, Hồi giáo hay Chính Thống giáo... Ngài đến cả những nơi mà một số đông dân chúng sở tại không muốn ngài đến, lại đòi ngài phải xin lỗi họ (như trong chuyến tông du tại Hy lạp vào tháng 5.2001). Ngài đến cả những nơi mà tính mạng bị đe doạ...

Ngài là vị Giáo hoàng can đảm nhất trong lịch sử, sẵn sàng ra khơi, dấn thân vào những “chỗ nước sâu”, những vũng xoáy, những nơi sóng gió nguy hiểm cho tính mạng... mà không hề biết sợ là gì, miễn sao Tin Mừng được loan báo.

Chúng ta noi theo đời sống chứng tá anh hùng của thánh Phêrô, của thánh Gioan Phaolô II, hãy sẵn sàng làm chứng cho Chúa mọi nơi, mọi lúc. Chúng ta hãy để đức tin và tình yêu mến dành cho Thiên Chúa của mình thôi thúc, hầu bất chấp tất cả mọi nghịch cảnh để hăng say làm chứng cho Chúa giữa đời.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã trao trọng trách cho Hội Thánh, tức là trao cho từng người chúng con nhiệm vụ phải loan Tin Mừng của Chúa cho mọi anh chị em trên khắp thế giới. Xin cho chúng con luôn ý thức trách nhiệm này, luôn can đảm làm chứng tá cho Chúa mọi nơi, mọi lúc, suốt đời chúng con. Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường


SUY NIỆM 2
1. Ngài lên thuyền ông Simon
Đám đông chen lấn Đức Giêsu để nghe Lời Thiên Chúa. Chúng ta hãy hình dung ra đám đông và nhận ra rằng con người cần Lời Thiên Chúa biết bao, dù ý thức hay không ý thức. Vì con người, tự bản chất, sống không nguyên bởi bánh (bình diện nhu cầu), nhưng còn bởi Lời Thiên Chúa (bình diện tương quan). Bởi vì Lời Thiên Chúa là Lời ban sự sống; “Lời ban sự sống” là lời tin tưởng, cảm thông, tha thứ, đón nhận, yêu thương. Chúng ta không thể sống, nếu không có những lời này. Và Lời Thiên Chúa làm cho lời của chúng ta trở thành lời “ban sự sống”, giống như Lời Chúa là Lời ban sự sống. Ngược lại là “lời giết chết”, theo kiểu của ma quỉ (nên đọc Hc 28, 13-26, nói về sự “lợi hại” của cái lưỡi). Xin cho chúng ta kinh nghiệm, nơi bản thân mình, Lời Chúa là “lương thực” không thể thiếu đối với sự sống hằng ngày của chúng ta.
Đức Giêsu « đang đứng ở bờ hồ Ghennêxarét » để ban Lời Thiên Chúa cho con người. Chúng ta hay nghĩ Đức Giê-su ngự trên ngai hay trên tòa; nhưng ở đây, Ngài hiện diện thật là bình dị và thật là gần gũi giữa chúng ta. Và Đức Giê-su thích hiện diện ở giữa chúng ta như thế đó: ngay trong môi trường sống của chúng ta, ngay trong cuộc sống bình thường của chúng ta, ngay trong cộng đoàn, môi trường làm việc, ở giữa những vấn đề cuộc sống của chúng ta, và thậm chí, ngay trong lòng của chúng ta, qua Lời của Ngài và bí tích Thánh Thể, được ban cho chúng ta hằng ngày.
Chính vì thế, Ngài bị chen lấn, Ngài thấy hai chiếc thuyền, và Ngài chọn lên thuyền ông Simon, xin ông đưa thuyền ra xa bờ một chút. Lúc ấy, các ngư phủ, trong đó có ông Simon, đang giặt lưới, không biết họ có « nghe Lời Thiên Chúa » như đám đông không. Đức Giêsu hành động cách vô tư vì hoàn cảnh. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận ra đó là cách Đức Giê-su chuẩn bị cho ơn gọi của ông Simon, một cách thức thật lạ lùng ! lạ lùng như mẻ cá lạ sắp diễn ra, nhưng thật tinh tế và kín đáo hơn nhiều.
Ơn gọi của chúng ta cũng được chuẩn bị như thế đấy, thật nhưng không, vì nhiều khi chúng ta cũng đang « giặt lưới », vốn chẳng phải là việc thiêng liêng hay đạo đức gì. Ở khởi đầu, một cách nào đó, Chúa luôn yêu cầu chúng ta làm điều gì đó cho Ngài khởi đi từ điều ngài cần thật sự và từ khả năng trao ban thật sự của chúng ta, như Người ngỏ lời với người Phụ Nữ Samari: “Xin cho tôi chút nước” (Ga 4, 7); nhưng chính là để mời gọi chúng ta đón nhận những gì Ngài sẽ trao ban. Con thuyền của ông Simon, người sẽ là Simon Phêrô trong tương lai. Hình ảnh này gợi cho chúng ta Con Thuyền Giáo Hội, và mỗi người chúng ta đều được trao ban một sứ vụ trên con thuyền này.
2. “Chèo ra chỗ nước sâu…”
Với lời yêu cầu đầu tiên của Đức Giê-su, ông Simon làm theo nhẹ nhàng, không phản ứng gì. Nhưng lời yêu cầu thứ hai này, thì ông không thể không phản ứng, vì quá kì cục. Sau này, Ngài còn yêu cầu nhiều điều kì cục không kém, chẳng hạn Người nói : « Thì anh em cho người ta ăn đi ». Cả đêm, chẳng được gì, lưới lại bẩn, họ đang bỏ công giặt lưới chắc chắn với lòng nặng trĩu, như chính chúng ta từng có những kinh nghiệm tương tự. Hơn nữa, họ chuyên nghiệp hơn Đức Giê-su, bởi vì ông Phê-rô là dân chài, còn Đức Giê-su là dân thợ! Thế mà, Đức Giê-su lại đề nghị đi thả lưới chỗ nước sâu ; ban ngày chỗ nước sâu ở hồ, dường như không dễ bắt được cá. Tuy nhiên, ông Simon trả lời: « Theo lời Thầy, tôi sẽ thả lưới ». Tại sao ông lại chịu thả lưới ? Có điều gì giải thích được không ?
Chúng ta có thể giải thích ở bình diện tâm lí, theo đó, vì nể Thầy mà Simon chịu. Nhưng, có lẽ chúng ta nên hiểu ở bình diện thiêng liêng : lời của Đức Giêsu có sức thu hút, nhưng rất kín đáo, không thể giải thích được. Vì lời của Ngài và ngôi vị của Ngài là một. Ngôi Lời sáng tạo nên chúng ta nên thu hút chúng ta tự trong sâu thẳm, như lúc Đức Giê-su gọi ông Mát-thêu.
“Chèo ra chỗ nước sâu để thả lưới”, là hình ảnh nói lên con đường phải đi của chính Đức Giê-su, của ông Simon và của từng người chúng ta, trong ơn gọi đi theo Đức Ki-tô. Đó là hành trình Vượt Qua: phải ra tận chỗ nước sâu, nơi mà chẳng còn gì để bám víu, nơi có nguy hiểm chết người, nơi mà dường như khó có hi vọng làm được gì, gặt hái được gì, để cho cá bắt được, kết quả có được, là hoàn toàn đến từ Lời Chúa, là ân huệ Chúa ban. Và kết quả này là kết quả “gấp trăm”, là “sự sống mới” lôi kéo và mời gọi nhiều người. Quả thật sau này, Phê-rô sẽ chèo thuyền đi rất xa, và thả lưới chỗ rất sâu; xa và sâu đến độ hi sinh chính sự sống của mình, để cho sự sống mới phát sinh gấp trăm cho đời sau và đời này. Xin cho chúng ta biết liều lĩnh, vâng nghe Lời Chúa, chèo ra chỗ nước sâu mỗi ngày, và nhất là ở những khúc quanh đặc biệt của hành trình đi theo Đức Ki-tô.
 3. “Bỏ hết mọi sự mà theo Người”
Chứng kiến mẻ cá, ông Simon sấp mình dưới chân Đức Giê-su và nói : « Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi ». Chúng ta có thể tự hỏi : Tại sao ông Simon lại thú nhận như vậy ?
  • Phải chăng, vì nhận ra sự hiện diện thần linh ngang qua mẻ cá lạ, nên ông Simon đã nhớ lại vô số tội mình đã phạm. Đó là mặc cảm tội lỗi làm con người không bình an và không thể mở ra. Chúng ta hay ở trong trường hợp này. Nhưng đó có phải là « tâm tình » của ông Simon không ?
  • Hay chính yếu là vì ông đã nghi ngờ lời của Đức Giêsu lúc Ngài mời gọi ông thả lưới.
  • Hoặc, ông cảm thấy mình không tương xứng với ân huệ lớn lao vừa nhận được, bất chấp sự bất xứng của ông : ân huệ ban dư tràn bất chấp sự bất xứng, có tên gọi là lòng bao dung (trường hợp người con hoang đàng trong vòng tay cha). Vì chỉ có kinh nghiệm thiết thân về lòng bao dung như vậy, mới giải thích được sự kiện ông bỏ hết tất cả để đi theo Đức Giêsu ; và kinh nghiệm này phải được làm mới lại mỗi ngày trên hành trình đi theo Đức Ki-tô.
Ông Simon xin Đức Giê-su tránh xa, nhưng Ngài không những không tránh xa, mà còn mời gọi ông đi theo Ngài và chia sẻ sứ mạng của Ngài : « Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta ». Theo bản băn Hi-lạp, « đi bắt người ta », để đối lại với nghề nghiệp đi bắt tôm cá (x. Mt 4, 19 ; Mc 1, 17). Cùng một tài năng, nhưng chuyển đổi tượng ! Đức Giêsu không tránh xa Simon, vì chẳng để ý gì đến cái « cảm thức tội lỗi » của ông ; cảm thức này ai cũng có và cần được chữa lành và giải thoát (thay vì duy trì và củng cố) bằng lòng tín thác ; như Đức Giê-su luôn công bố cách long trọng : « Lòng tin của con đã cứu con ».
Lòng tin vào tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa, được thể hiện nơi ngôi vị và Thập Giá của Đức Giê-su, giải thoát chúng ta khỏi mặc cảm tội lỗi, khỏi sự nghi ngờ chết chóc đối với tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Và đó chính là sức mạnh cứu độ của lòng tin, được chính Đức Giê-su công bố, chứ không phải là bất cứu điều gì khác, hay điều kiện nào khác.
Lời của Đức Giêsu trấn an Simon và tin tưởng chia sẻ sứ mạng cho ông, trong khi ông còn đầy bất toàn và còn cả một chặng đường dài đầy khó khăn phải đi. Và rồi, dù thánh Phê-rô có ra như thế nào, dù chúng ta có ra như thế nào, Đức Giêsu cũng sẽ nói : « Đừng sợ ». Đức Giê-su sẽ xây dựng Giáo Hội của mình trên đá tảng Phê-rô, nhưng như chúng ta vừa nhận ra và sau này cũng luôn luôn như thế, đá tảng Phê-rô lại dựa vào lòng thương xót.
Ở tận nguồn gốc của ơn gọi, cũng giống như ở tận nguồn gốc của sự sống của loài người và của mỗi người (x. St 1 ; Tv 139), luôn luôn là tình thương nhưng không, lòng thương xót và sự tin tưởng. Và Chính chúng ta có kinh nghiệm này : tại sao Chúa lại chọn con, khi con là một con người như thế ? Đây là một kinh nghiệm nền tảng ; nếu quên, chúng ta khó có thể sống bền vững hay ít là khó có thể sống sung mãn ơn gọi đi theo Đức Ki-tô. Hơn nữa, đây cũng là kinh nghiệm nền tảng cho cách chúng ta thi hành sứ vụ, tất yếu có liên quan đến các tội nhân lớn bé. Sứ vụ của chúng ta là sứ vụ tỏ bày tình yêu nhưng không và lòng thương xót cho mọi người, không trừ người nào, dù đó là ai và ở trong tình trạng. Chúng ta không thể chu toàn sự vụ này, nếu chúng ta không kinh nghiệm sâu thẳm tình yêu và lòng thương xót nơi bản thân, nơi cuộc đời của mình.
Và “Khi đó, đưa thuyền vào bờ, bỏ lại tất cả, họ đi theo Đức Giêsu”  (c. 11). « Khi đó », bản dịch Tiếng Việt « Thế là »: đó một thời điểm xác định; hãy nhớ lại thời điểm “khi đó” của hành trình ơn gọi của chúng ta. Tuy nhiên, thời điểm “khi đó” cần được tái hiện lại hàng ngày và nhất là trong những giai đoạn đặc biệt. Đưa thuyền vào bờ: thuyền tượng trưng cho phương tiện làm ăn, hay rộng hơn tượng trưng cho công danh sự nghiệp, thuyền tượng trưng cho cái mà đời mình như phụ thuộc hoàn tòan vào đó. Đưa thuyền vào bờ, nghĩa là sắp xếp lại cẩn thận, rồi…
Bỏ lại tất cả: nghĩa là ngoài cái thuyền ra, còn nhiều thứ khác nữa; nhưng nhất là những thứ mà con tim gắn bó nhất. Bỏ lại đàng sau, nhưng nhiều khi những điều này còn hiện diện trong lòng trong trí. Chúng ta đã bỏ rồi, nhưng chắc chắn vẫn còn nhiều điều cần phải bỏ lại.
Nhưng nếu Chúa kêu gọi chúng ta, Ngài sẽ cuốn hút chúng ta, bằng cách ban cho chúng ta sự hiểu biết thâm sâu về Ngài và tình yêu bền vững dành cho Ngài. Như kinh nghiệm của ngôn sứ Giê-rê-mia và của thánh Phao-lô:
Lạy ĐỨC CHÚA, Ngài đã quyến rũ con,
và con đã để cho Ngài quyến rũ.
Ngài mạnh hơn con, và Ngài đã thắng.
Có lần con tự nhủ: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người,
cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa.”
Nhưng lời Ngài cứ như ngọn lửa bừng cháy trong tim,
âm ỉ trong xương cốt.
Con nén chịu đến phải hao mòn, nhưng làm sao nén được! 
(Gr 20, 7 và 9)
*  *  *
Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Ki-tô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi. Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Ki-tô và được kết hợp với Người.  (Phil 3, 7-8)

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:54

Tin Công Giáo Thế Giới ngày 31.8.2016

Filled under:


Tôn vinh Mẹ Têrêsa tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York

WHĐ (31.08.2016) – Nhân dịp lễ tuyên thánh Mẹ Têrêsa, Chúa nhật 04 tháng Chín tới đây, Văn phòng Quan sát viên Thường trực của Toà Thánh tại Liên hiệp quốc phối hợp với ADF quốc tế –một hiệp hội luật gia vì quyền tự do sống đức tin– sẽ tổ chức một hội nghị và triển lãm về cuộc đời và sự nghiệp của vị sáng lập Dòng Thừa sai Bác ái, tại trụ sở Liên hiệp quốc ở New York, Hoa Kỳ. Triển lãm mở cửa từ ngày 06 đến ngày 09 tháng Chín 2016, nhằm mục đích nhắc nhớ cuộc đời và sự nghiệp của vị nữ tu cũng như di sản của thánh nữ cho Liên hiệp quốc.
Một hình mẫu cho những người làm việc tại Liên hiệp quốc
“Hôm nay chúng ta tưởng nhớ cuộc đời của Mẹ Têrêsa qua cuộc triển lãm này ở trung tâm của Liên hiệp quốc, để nhớ lại sự khôn ngoan, công việc phi thường và lòng yêu thương chan chứa của Mẹ đối với mỗi con người, người nghèo, người bệnh, thai nhi, và người hấp hối”: đó là lời giới thiệu của Douglas Napier, giám đốc điều hành hiệp hội ADF quốc tế. Ông nhìn nhận vị thánh tương lai là “một đại sứ đích thực cho tính bất khả xâm phạm của sự sống và của gia đình”.
Ông nói thêm: “Mẹ Têrêsa đã hoạt động một cách trung thành và không mệt mỏi. Niềm say mê này phải là một mẫu gương cho bất cứ ai làm việc cho Liên hiệp quốc hoặc tại Liên hiệp quốc. Bảo đảm rằng những người như Mẹ Têrêsa hoàn toàn có thể sống trọn vẹn đức tin của mình và có tác động tích cực trên thế giới phải là ưu tiên đối với mọi quốc gia”.
Triển lãm này kết thúc với một hội nghị vào ngày 9 tháng Chín, quy tụ nhiều diễn giả quốc tế, trong đó có một số người thân của Mẹ Têrêsa. Các bài thuyết trình sẽ kể lại cuộc đời và những việc làm của “vị trạng sư của hòa bình” vì những người nghèo nhất.
Sau khi công nhận một phép lạ nhờ lời chuyển cầu của Chân phước Têrêsa Calcutta, ngày 15-03-2016 Đức Thánh Cha Phanxicô đã công bố lễ tuyên thánh cho Mẹ Têrêsa sẽ được tổ chức tại Roma vào ngày 04 tháng Chín 2016, trước ngày kỷ niệm Mẹ qua đời cách nay 19 năm (5 tháng Chín 1997).
(Nguồn: WHĐ - Theo La Croix)


Posted By Đỗ Lộc Sơn05:44

Tin Mừng Chúa Nhật 23 Quanh Năm Năm C

Filled under:

Bài Ðọc I: Kn 9, 13-18
"Ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn".
Trích sách Khôn Ngoan.
Ai trong loài người có thể biết được ý định của Thiên Chúa? Hay ai có thể suy tưởng được sự Thiên Chúa muốn? Vì những ý tưởng của loài hay chết thì mập mờ, và những dự định của chúng tôi đều không chắc chắn. Vì xác hay hư nát làm cho linh hồn ra nặng nề, và nhà bụi đất làm cho lý trí hay lo lắng nhiều điều ra nặng nề.
Chúng tôi ước lượng cách khó khăn các việc dưới đất, và khó nhọc tìm thấy những sự trước mắt. Còn những sự trên trời, nào ai khám phá ra được? Ai hiểu thấu Thánh ý của Chúa, nếu Chúa không ban sự khôn ngoan, và không sai Thánh Thần Chúa từ trời cao xuống. Như thế, mọi đường lối những kẻ ở dưới đất được sửa lại ngay thẳng, và loài người học biết những sự đẹp lòng Chúa.
Vì, lạy Chúa, những ai sống đẹp lòng Chúa từ ban đầu, thì được ơn cứu độ nhờ sự khôn ngoan.
Ðó là lời Chúa.

Ðáp Ca: Tv 89, 3-4. 5-6. 12-13. 14 và 17
Ðáp: Thân lạy Chúa, Ngài là chỗ chúng con dung thân, từ đời nọ trải qua đời kia (c. 1).
Xướng: 1) Thực ngàn năm ở trước thiên nhan, tựa hồ như ngày hôm qua đã khuất, như một đêm thức giấc cầm canh. Chúa khiến cho con người trở về bụi đất, Ngài phán: "Hãy trở về gốc, hỡi con người". - Ðáp.
2) Chúa khiến họ trôi đi, họ như kẻ mơ màng buổi sáng, họ như cây cỏ mọc xanh tươi. Ban sáng cỏ nở hoa và xanh tốt, buổi chiều nó bị xén đi và nó héo khô. - Ðáp.
3) Xin dạy chúng con biết đếm ngày giờ, để chúng con luyện được lòng trí khôn ngoan. Lạy Chúa, xin trở lại, chớ còn để tới bao giờ? xin tỏ lòng xót thương tôi tớ của Ngài. - Ðáp.
4) Xin cho chúng con sớm được no phỉ ân tình của Chúa, để chúng con mừng rỡ hân hoan trọn đời sống chúng con. Xin cho chúng con được hưởng ân sủng Chúa là Thiên Chúa chúng con, sự nghiệp tay chúng con làm ra, xin Ngài củng cố, xin Ngài củng cố sự nghiệp tay chúng con làm ra. - Ðáp.

Bài Ðọc II: Plm 9b-10. 12-17
"Con hãy tiếp nhận nó không phải như một người nô lệ, nhưng như một người anh em rất thân mến".
Trích thư Thánh Phaolô Tông đồ gởi cho Philêmon.
Con thân mến, Phaolô già nua, và hiện đang bị cầm tù vì Ðức Giêsu Kitô, cha nài xin con cho Ônêsimô, đứa con cha đã sinh ra trong xiềng xích.
Cha trao nó lại cho con. Phần con, con hãy đón nhận nó như ruột thịt của cha. Cha cũng muốn giữ nó lại để thay con mà giúp đỡ cha trong lúc cha bị xiềng xích vì Tin Mừng. Nhưng vì chưa biết ý con, nên cha không muốn làm gì, để việc nghĩa con làm là một việc tự ý, chớ không vì ép buộc. Vì biết đâu nó xa con một thời gian để rồi con sẽ tiếp nhận muôn đời, không phải như một người nô lệ, nhưng thay vì nô lệ, thì như một người anh em rất thân mến, đặc biệt đối với cha, huống chi là đối với con, về phần xác cũng như trong Chúa. Vậy nếu con nhận cha là bạn hữu, thì xin con hãy đón nhận nó như chính mình cha vậy.
Ðó là lời Chúa.

Alleluia: Ga 10, 27
Alleluia, alleluia! - Chúa phán: "Con chiên Ta thì nghe Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta". - Alleluia.

Phúc Âm: Lc 14, 25-33
"Ai không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca.
Khi ấy, có nhiều đám đông cùng đi với Chúa Giêsu, Người ngoảnh lại bảo họ rằng: "Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta. Còn ai không vác thập giá mình mà theo Ta, thì không thể làm môn đệ Ta.
"Có ai trong các ngươi muốn xây tháp mà trước tiên không ngồi tính toán phí tổn cần thiết, xem có đủ để hoàn tất không? Kẻo đặt móng rồi mà không thể hoàn tất, thì mọi người xem thấy sẽ chế giễu người đó rằng: 'Tên này khởi sự xây cất mà không hoàn thành nổi'.
"Hoặc có vua nào sắp đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên không ngồi suy nghĩ xem mình có thể đem mười ngàn quân ra đương đầu với đối phương dẫn hai mươi ngàn quân tiến đánh mình chăng? Bằng chẳng nổi, thì khi đối phương còn ở xa, vua ấy sai một phái đoàn đến cầu hoà. Cũng thế, bất kỳ ai trong các ngươi không từ bỏ tất cả của cải mình có, thì không thể làm môn đệ Ta".
Ðó là lời Chúa.

Suy Niệm:
Ðể trở nên môn đệ của Ðức Giêsu, chúng ta cũng phải cùng đi con đường với Ðức Giêsu. Ðường Ngài đi là từ bỏ, là đón nhận Thập Giá. Chúng ta có dám từ bỏ bản thân? Có dám hy sinh cho lợi ích tha nhân như Chúa không?

Cầu Nguyện:
Lạy Chúa Giêsu, gia đình chúng con, giáo xứ chúng con, tổ quốc chúng con cũng đang khao khát một cuộc sống ấm no, an vui, thịnh vượng. Nhưng để điều đó được hiện thực, mỗi người chúng con phải biết bỏ đi tư lợi để xây dựng cho công ích. Chỉ khi biết sống vì tha nhân chúng con mới đích thực làm môn đệ của Chúa. Amen.



Posted By Đỗ Lộc Sơn05:36

5 Phút cho Lời Chúa 1/9/2016

Filled under:

MỘT TƯƠNG LAI RỘNG MỞ
“Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” (Lc 5,10)
Suy niệm: Chắc chắn người mặc cảm tội lỗi không thể thi hành bổn phận truyền giáo, dù nhìn nhận sự yếu hèn của mình là điều cần thiết của người loan báo Tin Mừng. Tiên tri I-sai-a và Giê-rê-mi-a mặc cảm sự yếu kém của mình và tìm cách thoái thác sứ mạng ngôn sứ. Phê-rô mang tâm trạng đầy mặc cảm và sợ hãi trước sự cao cả và quyền năng của Chúa nên không dám đi theo Ngài: “Lạy Thầy, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi.” Nhưng Chúa đâu muốn để người ta chìm sâu trong mặc cảm và tránh xa Ngài. Ngài đến để cứu chữa chứ đâu phải để tiêu diệt. Chúa đã tha thứ tội lỗi rồi và không hề muốn con người được tha cứ đấm ngực rên rỉ. Vì thế, sau khi nghe I-sai-a thú nhận ông bất xứng làm ngôn sứ, Thiên Chúa đã dùng than hồng thánh hóa môi miệng ông. Tương tự, sau khi nghe Phê-rô xin Chúa tránh xa ông, Chúa Giê-su đã trấn an ông: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là người thu phục người ta.” 
Mời Bạn: Nếu ai đã từng nhận thức mình tội lỗi và bất xứng, thì đồng thời cũng hãy nhớ rằng tình yêu của Ngài còn mạnh mẽ hơn: Chúa muốn và có thể tái tạo chúng ta trở nên người mới để đảm nhận lại sứ mạng đưa người thân, người lạ đến với ơn cứu độ. Sau mỗi lần từ tòa giải tội trở về, bạn làm gì để đáp đền lòng Chúa thương xót?  Cứ mãi mặc cảm tội lỗi hay hăng hái bắt đầu lại bằng việc loan báo tình thương của Chúa cho tha nhân?
Sống Lời Chúa: Làm ngay một việc với ý hướng truyền giáo.
Cầu nguyện: Xin Chúa tiếp tục dùng con như khí cụ truyền giáo của Chúa, nỗ lực thu phục nhiều người cho Chúa trong môi trường con đang sống. 

Thánh Beatrice Silva
(1424-1491)
Thánh Beatrice có một liên hệ sơ sài nhưng rõ ràng với phong trào Phanxicô. Dòng tu ngài sáng lập đã không được sát nhập vào dòng Phanxicô cho đến sau khi ngài chết, nhưng ngày nay dòng ấy là một nhánh chính yếu của gia đình Thánh Phanxicô.

Beatrice sinh trưởng ở Ceuta, Morocco. Ngài có liên hệ đến hoàng gia Bồ Đào Nha và có lúc phục vụ như một thị tỳ cho nữ hoàng Castile. Sau khi từ bỏ công việc ấy, ngài gia nhập tu viện Đa Minh ở Toledo, là nơi ngài sống trong 37 năm (dù rằng ngài chưa bao giờ tuyên khấn lời hứa của dòng này).

Bảy năm trước khi từ trần, Thánh Beatrice thành lập một cộng đoàn chiêm niệm theo luật Dòng Xitô. Sau khi ngài chết được ba năm, Đức Giáo Hoàng Alexander VI đặt cộng đoàn của thánh nữ trong hệ thống Anh Em Hèn Mọn Phanxicô và theo Luật Thánh Clara. Ngày nay những nữ tu này thường được gọi là Người Theo Linh Đạo Thánh Clara Khó Nghèo, và vào năm 1968 các nữ tu này chiếm khoảng 20 phần trăm tổng số người trong Dòng Nhì. Sơ Beatrice được phong thánh năm 1976.

Lời Bàn
Nhiều người khiếp sợ sự cầu nguyện và hãm mình của các nữ tu dòng Thánh Clara Khó Nghèo. Những người khác lại được hứng khởi bởi lòng bác ái và hy sinh này, mà linh đạo ấy đã giữ cộng đoàn trung tín với mục đích của dòng: phục vụ Thiên Chúa và Giáo Hội với một tâm hồn ngày càng thanh khiết hơn.

Lời Trích
Celano viết về những người đầu tiên theo Thánh Phanxicô: "Trên tất cả mọi sự, trong cộng đoàn của họ nảy sinh một nhân đức ngoại hạng về lòng bác ái cộng đồng và liên tục, mà nhân đức này đã kết hợp họ thành một, mặc dù bốn năm chục người sống trong một mái nhà, và sự đồng tâm nhất trí của họ đã khuôn đúc thành một tinh thần trong nhiều tinh thần ngoại hạng khác" (I Celano, #19).

Bờ Dậu Trước Ngõ

Có một chàng thanh niên chán sống nơi thôn dã, đã bỏ nhà trốn lên thành thị... Ở đó, chàng đã ăn chơi trác táng... Kiếm sống xa đọa đã đưa đẩy chàng đến chỗ thân tàn ma dại.
Chàng quyết định trở về. Nhưng trên đường về, nghĩ mình quá bất xứng không biết cha mẹ có tha thứ không, nên chàng đã rẽ lối đi nơi khác. Ở đó, chàng viết thư về cho cha mẹ và thú nhận tội lỗi.
Mẹ chàng đã làm gì? Bà không những treo một chiếc áo bông mà lấy tất cả áo trong nhà ra treo kín cả dậu trước ngõ.
Thiên Chúa cũng đối xử với chúng ta như thế. Phiêu lưu trong tội lỗi, chúng ta chỉ cảm thấy chán chường thất vọng, nhưng Thiên Chúa không bao giờ thất vọng về chúng ta.
Phải, Thiên Chúa yêu thương và tha thứ hơn cả sự chờ mong của chúng ta.

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:31

Suy niệm CN 23 C - Lm Giuse Đỗ Văn Thụy

Filled under:

Theo Chúa phải từ bỏ tất cả (Lc 14,25-33)
Trong Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói với đám đông dân chúng rằng:”Nếu ai đến với Ta mà không bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta”
Khi Đức Giêsu đòi hỏi những người theo Chúa phải từ bỏ, điều ấy không có nghĩa là những kẻ theo Chúa luôn luôn phải rời xa cha mẹ, vợ con, và những người thân yêu.
Từ bỏ ở đây nên hiểu theo nghĩa tinh thần. Nghĩa là người theo Chúa cần phải có tinh thần từ bỏ. Có tinh thần từ bỏ là luôn luôn coi Chúa và những việc của Chúa là quan trọng hơn tất cả mọi sự khác, sẵn sàng hy sinh tất cả để theo Chúa.
Từ bỏ không phải là không quí những điều mình từ bỏ, mà là không quí bằng một cái khác quí hơn, nên sẵn sàng hy sinh cái quí nhỏ cho cái quí lớn hơn.
Mạng sống, cha mẹ, vợ con, anh em, nhà cửa, ruộng vườn… đều là những thứ mà người theo Chúa phải quí trọng, thậm chí rất quí, nhưng đối với người theo Chúa, thì phải coi tất cả những thứ đáng quí ấy không quí bằng việc thực hiện Nước Thiên Chúa.
Nghĩa là tình yêu Chúa phải chiếm chỗ nhất trong trái tim chúng ta, và chúng ta phải gỡ bỏ tất cả những gì cản trở tình yêu ấy.
Thánh Grêgoriô Cả giải thích câu:”Nếu ai đến với Ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh chị em và cả mạng sống mình, thì không thể làm môn đệ Ta” như sau:
“Ở đời này hãy yêu tất cả, kể cả kẻ thù, nhưng phải ghét những ai ngăn cản chúng ta trên bước đường dẫn tới Chúa, dầu đó là người thân.
Như vậy ta phải yêu người lân cận, phải có lòng bác ái đối với tất cả, với kẻ gần và người xa, nhưng không được vì yêu họ mà chúng ta lìa xa tình yêu Chúa”.
Dứt khoát là phải giữ bậc thang giá trị trong tình yêu: Chúa trên hết.
Như trong sách Đệ Nhị Luật: “ Nghe đây, Hỡi Israen, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng hết dạ, hết sức anh em. Những lời này tôi truyền cho anh em hôm nay, anh em phải ghi lòng tạc dạ. Anh em phải lặp lại những lời ấy cho con cái, phải nói lại cho chúng, lúc ngồi trong nhà cũ như lúc đi đường, khi đi ngủ cũng như khi thức dậy” (Đnl 6,4-7)
Có câu chuyện kể rằng:
Odette, một cô gái xinh đẹp, sinh ra trong một gia đình quý tộc ở nước Bỉ.
Năm 17 tuổi, cô quyết định đi tu, nhưng chỉ vài ngày sau khi lãnh áo dòng, cha mẹ cô đến bắt trở về.
Từ lâu, cha mẹ đã có ý gả cô cho một lãnh chúa ở một lâu đài gần đó.
Vốn biết cô con gái cưng không muốn lập gia đình nên cha mẹ cô đã chuẩn bị hôn lễ một cách kín đáo.
Một buổi sáng đẹp trời cô thức giấc vì sự ồn ào khác thường của lâu đài.
Vén màn nhìn qua cửa sổ, cô ngạc nhiên thấy xe hoa lộng lẫy đang tiến vào khuôn viên trước lâu đài.
Hỏi đầy tớ, cô mới biết người ta đang chuẩn bị lễ cưới cho cô.
Kế đó, các người hầu vào phòng trang điểm và mặc áo cưới cho cô.
Họ đưa cô xuống nhà nguyện của lâu đài.
Nơi đây, có đông đủ quý khách, và vị linh mục tuyên úy của lâu đài cũng đang chờ đợi để cử hành nghi thức hôn phối.
Khi đến phần giao ước, vị chủ tế hỏi Odette có muốn nhận Simon làm chồng theo luật Giáo Hội không? Cô đã dõng dạc tuyên bố “Con không nhận lãnh chúa Simon cũng như bất cứ người nào làm chồng, bởi vì tình yêu và đức tin của con đã hiến dâng cho Chúa Kitô từ lâu rồi. Vì thế, không một tình yêu nào, cho dù sự hăm dọa có thể tách con khỏi tình yêu Chúa Kitô là bạn trăm năm duy nhất của đời con”.    
Sáng hôm sau, không thấy con gái xuống vườn đi dạo như thường lệ, cha cô gõ cửa vào phòng cô. Odette đang gục đầu trên vũng máu. Ông đau đớn nhìn con và hiểu ngay ý định của Odette. Vì muốn hủy hoại sắc đẹp của mình nên cô đã dùng gươm cắt chiếc mũi xinh đẹp của cô.
Khi hồi tỉnh lại, được hỏi lý do tại sao cô làm như vậy?
Cô thản nhiên đáp: “Như thế sẽ không ai cấm cản con đi theo Chúa Kitô nữa”.     Thật vậy, khi vết thương đã lành, cô được phép nhập tu viện.
Ba năm sau đó, nữ tu Odette được chị em chọn làm tu viện trưởng lúc mới 23 tuổi.  
Thưa anh chị em,
Cử chỉ táo bạo và xem ra như điên rồ của Odette là bằng chứng hùng hồn về lòng tin và tình yêu của cô đối với Chúa Kitô.
Và để trung thành tuyệt đối với tình yêu cao cả đó, cô đã sẵn sàng hy sinh tất cả: cha mẹ, tiền tài, danh vọng, chức quyền, sắc đẹp và chính đời sống của cô nữa.
Quả thật,
Lời Chúa trong bài Tin Mừng hôm nay luôn vang vọng trong tâm hồn cô:

“Ai theo Ta mà không từ bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ Ta được”. Amen.

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:25