Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2015

CHÚA PHỤC SINH ĐẾN VỚI TÔI

Filled under:

1. Mới rồi, một biến cố đã xảy đến cho tôi. Biến cố riêng tư, tuy nhỏ, nhưng đang ảnh hưởng lớn đến đời tôi. Tôi xin được phép chia sẻ.

Sau một ngày được đọc và được nghe kể về những cuộc lễ tạ ơn trọng thể đó đây, trong đó đề cao những thành tích lẫy lừng nhiều mặt, tôi cảm thấy như có một sự giới thiệu về Ơn Phục Sinh tại những nơi ấy.

Đêm đến, tôi lên giường, muốn ngủ mà không ngủ được. Tôi cầu nguyện. Thế rồi, tôi đi vào một giấc mơ. Tôi thấy Chúa Giêsu Phục Sinh đến với tôi. Một cảm giác rất mạnh bừng lên trong tôi, làm tôi sung sướng và bình an lạ thường, đó là thấy Chúa Phục Sinh rất hiền lành, rất khiêm nhường, rất xót thương. Người nhìn tôi, mà không nói gì. Tôi nhìn Người, cũng không nói được gì. Đột nhiên, tôi bật khóc và tôi thức.

2. Khi tỉnh dậy, tôi cảm thấy lòng tôi tràn trề niềm vui. Tôi thấy cái nhìn của Chúa Phục Sinh đã đổi mới tôi một cách sâu xa và mạnh mẽ. Tôi chỉ xin kể ra đây vắn tắt bốn soi sáng tôi nhận được. Soi sáng nào cũng là chân lý cứu độ tôi. Soi sáng nào cũng làm cho tôi được phục sinh.

3. Soi sáng thứ nhất mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết tôi là kẻ tội lỗi.
Trong giây lát, cái nhìn của Chúa Phục Sinh cho tôi thấy quá khứ của tôi đầy những tội lỗi, hiện tại của tôi đầy những yếu đuối, tương lai của tôi đầy những điều phải đổi mới.

Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người Pharisêu và người thu thuế” (Lc 18,9-14). Người Pharisêu khi cầu nguyện, đã hết lòng cảm tạ Chúa về bao việc đạo đức mình đã làm. Còn người thu thuế, khi cầu nguyện, thì hết lòng xin Chúa thương xót, vì nhận mình chỉ là kẻ tội lỗi. Chúa Phục Sinh soi sáng cho tôi thấy: Tôi hãy nhận mình là kẻ tội lỗi. Đó là sự thực. Tôi nhận rõ sự thực đó. Tôi sám hối. Tôi nhìn Chúa đang nhìn tôi. Tự nhiên tôi bật khóc.

4. Soi sáng thứ hai mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết bất cứ tội nào của tôi cũng đều gây đau đớn cho chính Chúa Giêsu.
Cái nhìn của Chúa Phục Sinh đưa lòng trí tôi đến thánh giá. Tôi nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đó. Người mang hình ảnh khủng khiếp của một tội nhân. Người chịu như vậy vì tội lỗi của tôi và của muôn người. Tội lỗi của tôi đã làm cho Người phải khổ. Tôi nhớ lại những lúc trước đây tôi dửng dưng trước đau khổ của Chúa Giêsu trên thánh giá. Người quá đau khổ vì tội lỗi tôi. Tôi nhận ra là sự dửng dưng đó của tôi đã làm cho Chúa bị đau khổ thêm. Tôi hối hận vô vàn. Tôi khóc.

5. Soi sáng thứ ba mở lòng trí tôi ra, là để tôi nhận biết sự tha thứ Chúa dành cho tôi là do lòng thương xót Chúa.
Tôi nhớ lại dụ ngôn “Người cha nhân hậu” (Lc 15,11-32). Người cha này đã đối xử với người con phung phá trở về một cách xót thương quá sức tưởng tượng. Người cha ấy đã tha thứ, đã ôm lấy con, chỉ vì tình yêu xót thương. Hình ảnh người cha tha thứ đó dạy tôi, khi sám hối, phải nhìn vào Chúa là Cha, để đón nhận sự thứ tha. Chứ đừng đón nhận ơn tha thứ, chỉ từ các nghi thức. Các nghi thức sám hối, để ban ơn tha thứ, nếu chỉ nhấn mạnh đến hình thức bên ngoài, sẽ dễ tạo nên một sự thứ tha máy móc. Hãy gặp mặt chính Chúa là Cha, để trở về với Cha.

6. Soi sáng thứ bốn mở lòng trí tôi ra là để tôi chọn Chúa Giêsu một cách tuyệt đối và dứt khoát.
Tôi đã chọn Chúa Giêsu. Sự lựa chọn đó của tôi là tuyệt đối. Tôi dám nói về sự lựa chọn đó bằng những lời của thánh Phaolô: “Tôi tin chắc rằng: Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm, hay bất cứ một loài thụ tạo nào khác, không có gì tách được tôi ra khỏi tình yêu cua Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô  Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8,38-39).

Tôi chọn Chúa Giêsu là cũng chọn thánh giá của Người: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thánh giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14). Vì thế “Tôi luôn mang nơi thân xác mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Kitô cũng được biểu lộ nơi thân mình tôi” (2Cr 4,10). Tóm lại, “Tôi chỉ có một tham vọng là làm đẹp lòng Người” (2Cr 5,9).

7. Những gì trên đây đã xảy đến cho tôi từ cái nhìn của Chúa Phục Sinh thực là tuyệt vời. Tôi hết lòng cảm tạ Chúa.
Tôi nghĩ Chúa Phục Sinh đã đến với nhiều người, có thể cũng một cách như đã đến với tôi, và có thể bằng những cách khác. Điều quan trọng là mỗi người chúng ta cần phải tỉnh thức và nhạy bén. Bởi vì Chúa Phục Sinh đến cách bất ngờ, lúc bất ngờ, và ở nơi bất ngờ.

Nếu chúng ta tưởng Chúa Phục Sinh sẽ đến theo chương trình chúng ta đã sắp đặt trước, thì ta tự lừa dối mình.

8. Kinh nghiệm của riêng tôi cho tôi thấy: Chúa Phục Sinh thường hay đến với tôi bằng một cái nhìn thân thương của Người. Người gởi cho tôi cái nhìn thân thương ấy của Người qua nhiều phương tiện. Qua cầu nguyện, qua một số người, một số thời sự, một số bài báo, một số trang sách, một số biến cố v.v... Tôi đã bất chợt được những cái nhìn thân thương của Chúa. Chính nhờ ơn Chúa. Tôi đón nhận sứ điệp gói trong những cái nhìn đó, để rồi tôi gặp được chính Chúa Phục Sinh.

9.Không phải sứ điệp nào trong những cái nhìn của Chúa đều làm tôi vui. Bởi vì không thiếu trường hợp, sứ điệp đó lại là những cảnh báo rất đáng sợ.

Xưa: “Khi đến gần Giêrusalem và nhìn thấy thành, Đức Giêsu khóc thương mà nói: ‘Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi. Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được. Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái ngươi đang ở giữa ngươi và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm” (Lc 19,41-44).

Chúa nhìn thành và đã khóc. Tôi đang thấy cảnh đó tái diễn. Người cảnh báo về một sự sụp đổ tang thương nào đó. Và tôi lo sợ. Lo sợ của tôi giúp tôi thêm khiêm nhường và bớt chủ quan để thêm cậy tin vào Chúa Phục Sinh.

10.“Xin đừng làm theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mà thôi” (Lc 22,42). Tôi luôn cùng với Chúa Phục Sinh nói lên lời phó thác đó, để thánh ý Chúa Cha được nên trọn nơi tôi. Tôi xác tín tôi được sai đi để làm chứng cho Chúa qua sự từ bỏ mình, để vâng phục trọn vẹn nơi Chúa Phục Sinh.

Long Xuyên 28-3-2015
+ Gm. Gioan B Bùi Tuần

Posted By Đỗ Lộc Sơn06:59

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

40 Câu Hỏi Về Thánh Lễ Thường Gặp

Filled under:


Posted By Đỗ Lộc Sơn04:45

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

Mười Khuyết Điểm của Chúa Giêsu

Filled under:

Tuần Thánh, mời bạn đọc lại bài chia sẻ của ÐHY P.X. Nguyễn Văn Thuận trong dịp họp mặt “Niềm Vui Sống Ðạo” của các bạn trẻ Công giáo Việt Nam sống tại Âu Châu. Tuần Thánh là dịp tốt lành để chúng ta đồng hành với Đức Giêsu Kitô trên Chặng Đàng Thánh Giá, và để biết Chúa Giêsu của chúng ta có nhiều "khuyết điểm dễ thương" lắm lắm!
Chúa Giêsu kính yêu của chúng ta có 10 khuyết điểm này:
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ!
2. Chúa Giêsu không biết làm toán
3. Chúa Giêsu không sành luận lý
4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chánh
5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
7. Chúa Giêsu không giữ luật Do thái
8. Chúa Giêsu như điên cuồng
9. Chúa Giêsu phiêu lưu
10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn.
Phải chăng vì thế mà Chúa Giêsu phải chết tang thương? Mời bạn tìm hiểu thấu đáo!
1. Chúa Giêsu kém trí nhớ !
Lúc sắp trút hơi thở, Chúa Giêsu có cuộc đối thoại cuối cùng với hai người gian phi cùng bị treo trên thập giá cạnh ngài. Một trong hai người đó thốt lên lời nầy với Chúa Giêsu: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”. Và Chúa nói với anh ấy: “Tôi bảo thật với anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên đàng” (Lc 23,42-43).

Chúa Giêsu không sưu tra lại lý lịch người đó để nhớ xem hắn gian ác đến mức độ nào, không cân nhắc tội nặng, nhẹ để châm chước hay tạm ra hình phạt thế nào đó cho thích đáng. Người gian phi kêu nài Ngài nhớ, thì Ngài “nhớ” một điều là thấy người ấy trước mắt, còn tất cả mọi điều gian ác trước đó Ngài đã quên hết, quên đến độ ngay hôm đó hứa ngay Nước Thiên đàng cho anh ta. Các thánh nói: tên này suốt đời ăn trộm, đến lúc chết nó ăn trộm nước thiên đàng luôn!
Trong Phúc Âm chúng ta gặp lại nhiều chứng tích về việc Chúa Giêsu kém trí nhớ như thế. Nhưng qua chuyện ngụ ngôn người cha nhân hậu, sự kiện đó rõ ràng. Thánh sử Luca kể rằng người con út trong hai con của cha già đã lấy hết phần gia tài của nó, để bỏ nhà ra đi sống đời phóng đảng, quên cha, quên anh. Ðến khi tiêu hết tiền, gặp năm đói, thì quay trở về nhà, xin khai thú tội lỗi mong cha già xét tình cha con mà tha thứ…
Người cha (là hình ảnh Chúa Giêsu), không kể đến tội cũ, chỉ trông ngóng chờ con; thấy con đằng xa, thì chạy ra đón. Con có thú tội, thì cũng không cố nghe để hạch hỏi tội cũ mà ra lệnh cho tôi tớ: lấy áo đẹp, giày tốt, nhẫn quý mang lại cho cậu, làm thịt con bê béo dọn tiệc vì con ta chết mà nay nó sống lại.
“Anh ta còn ở đằng xa, thì người cha đã trông thấy. Ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ anh ta và hôn lấy hôn để”. Bấy giờ người con thưa rằng: “Thưa cha, con thật đắc tội với Trời và với Cha, con chẳng đáng gọi là con cha nữa…”. Nhưng người cha liền bảo người giúp việc rằng: “Mau đem áo đẹp nhất ra đây mặc cho cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay , xỏ dép vào chân cậu, rồi đi bắt con dê đã vỗ béo làm thịt để chúng ta mở tiệc ăn mừng!…” (Lc 15,20-23).
Chúng ta thấy ở đây trí nhớ của Chúa Giêsu dường như không còn làm việc nữa! Ngài quên vô điều kiện, quên tức khắc tất cả quá khứ không hay không tốt của ta, mỗi khi chúng ta quay trở về. Ngài chỉ nhớ mỗi người là con Cha Ngài, là em Ngài, nên khi ta quay lại gặp Ngài, thì tức khắc ta lại được mặc áo vinh hiển sự sống của Thiên Chúa.
2. Chúa Giêsu không biết làm toán
Trong dụ ngôn con chiên bị mất (x. Mt 18,12-14; Lc 15,4-7), chúng ta thấy lối cư xử của Chúa Giêsu tỏ ra không biết tính toán. Một kẻ có 100 con chiên ở giữa đồng trống mà mất một con, hẳn phải tính toán xem làm sao một con đi lạc lại hơn 99 con còn lại. Không những Chúa Giêsu cho rằng 1 con đi mất cũng bằng 99 con còn lại, mà còn đi xa hơn nữa: Ngài bỏ 99 con còn lại đấy để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất. Một mà hơn 99, hẳn Chúa Giêsu không biết làm toán!
Trong chương trình rao giảng của Ngài, không phải số lượng quần chúng đông đảo mà Chúa Giêsu tìm kiếm, nhưng là những con người; và Ngài đã không tiếc thì giờ để trao đổi với từng người, giảng dạy cho một người như chúng ta từng thấy trong cuộc đối thoại với người phụ nữ Samari trên bờ giếng Giacóp (x. Ga 4,1-42).
3. Chúa Giêsu không sành luận lý
Chúa Giêsu không những không cân nhắc tính toán trên số lượng, mà có lúc lời của Ngài đi ngược lại sự khôn ngoan bình thường của con người.
“Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì để đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc… (Lc 14,12-14).
Trong dụ ngôn về đồng bạc bị mất (x. Lc 15,8-10), người phụ nữ có 10 đồng, nhưng trong đêm lỡ đánh mất 1 đồng: “Bà thắp đèn, quét nhà, moi móc tìm cho bằng được”. – Khi tìm được, thì bất chấp giờ giấc nghĩ ngơi ban đêm của hàng xóm, bạn bè, mời họ phải đến chung vui với mình.
Chúa Giêsu ví mình như người phụ nữ tìm đồng bạc bị mất trong đêm; không cần suy tính, luận lý là đủng đỉnh ngày mai sẽ tìm, dù sao thì cũng còn 9 đồng khác trong tay; nôn nóng đem nguồn vui của mình cho người chung quanh không ngại sự nghỉ ngơi trong đêm vắng. Chẳng qua vì Chúa là yêu thương, mà yêu thương của Thiên Chúa cao hơn lý luận con của người. “Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối” (Lc 15,10).
4. Chúa Giêsu không biết kinh tế tài chính
Chúa Giêsu đến để loan báo Nước Trời ở gần con người, gần cuộc sống của họ. Thế mà khi giới thiệu Nước Trời với các môn đệ và với người nghe Ngài nói, Ngài lấy dụ ngôn về Nước Trời như người chủ vườn nho thuê thợ làm cho mình trong một ngày (x. Mt 20,1-16). Người chủ từ tảng sáng đã mướn thợ làm; rồi đến giờ thứ 3, giờ thứ 6, giờ 11, mỗi giờ người ấy đều đi tìm mướn thêm thợ (giờ 11 trong lối nói của người Do Thái thời của Chúa Giêsu tức là buổi cận chiều tối rồi).
Chiều tối đó, ông chủ, là hình ảnh Chúa Giêsu, bảo người quản lý kêu thợ lại và trả cho mỗi người 1 quan tiền như nhau. Những kẻ làm nhiều giờ trong ngày bực tức vì thấy ông chủ nầy không biết gì về kinh tế, tài chính cả, hơn nữa còn bất chấp lối tính toán và sự công bình thông thường: “Này bạn, tôi đâu có xử bất công với bạn. Bạn đã chẳng thoả thuận với tôi là 1 quan tiền sao?… Hay vì thấy tôi tốt bụng, mà bạn đâm ghen tức? Thế là những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót…” (Mt 20,13-16).
5. Chúa Giêsu làm bạn với kẻ tội lỗi
Không phải trong xã hội của người Do Thái vào thời Chúa Giêsu còn tại thế, mà ngay giữa xã hội chúng ta, người ta khó lòng chấp nhận chuyện người “đàng hoàng” lại giao du với lớp người được đánh giá là không “đàng hoàng”.
Thời bấy giờ người đồng hương với Chúa Giêsu cho rằng hai giới đặc biệt không “đàng hoàng” là những quân thu thuế và người tội lỗi, đặc biệt là các người gái điếm. Người tội lỗi bấy giờ còn được xem là những kẻ không lành mạnh về cuộc sống thân xác, như người phung cùi, tàn tật… Những người Pharisiêu nhiều lần thắc mắc về thái độ sống của Chúa Giêsu và nhắc nhở với các môn đệ Chúa: “Sao Thầy của các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy?” (Mt 9,11). “Ông nầy đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng” (Lc 15,2).
Theo các sách Phúc Âm ghi lại, thì không những Chúa Giêsu chỉ gặp gỡ, chào hỏi, hay bất đắc dĩ được mời ăn thì ngại lắm phải chiều người ta, mà thực sự Ngài tự tìm tới nhà người thu thuế, và kẻ tội lỗi, làm thân với họ và ăn ở với họ.
Ông Dakêu là người “đứng đầu những người thu thuế” (Lc 19,2); khi biết Chúa Giêsu đi qua thành phố Giêricô, ông ấy sợ không chen lấn nổi với đông đảo dân chúng, nên chạy ra đàng trước, trèo lên cây sung để xem Ngài, chẳng qua vì ông rất lùn. Chúa Giêsu đi qua,nhìn lên cây ấy thấy ông và nói ngay: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” (Lc 19,5)Người chung quanh xào xáo: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ” (Lc 19,7).
Chúa Giêsu tự đến để gặp gỡ Dakêu và loan Tin Mừng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này” (Lc 19,9)Và chúng ta đều biết Chúa đã chọn 1 trong 12 vị Tông đồ của Ngài là Mathêu, trước đó có tên là Lêvi một người làm nghề thu thuế.
Và để giải thích thái độ ngược đời của mình, chính Chúa Giêsu đã nói rõ sứ mệnh của Ngài: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9, 12-13).
6. Chúa Giêsu thích ăn uống, tiệc tùng
Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy sự kiện mỗi lần đến nhà nào, gặp ai, đặc biệt là những người được xã hội xếp loại không “đàng hoàng”, Chúa Giêsu lại thường ăn uống. Ngài mở đầu sứ mạng rao giảng công khai bằng việc dự tiệc cưới Cana miền Galilê (x. Ga 2,1), kết thúc cuộc gặp gỡ chung với các tông đồ trước khi đi vào cuộc khổ nạn bằng bữa tiệc ở Giêrusalem gọi là tiệc ly (x. Mt 26,17 và tiếp theo).
Thế nhưng lịch sử nhiều tôn giáo và tâm thức nhiều nền văn hoá không phải đã cho chúng ta thấy rằng nói đến thần thánh, đạo đức, tôn giáo thì hẳn phải nói đến ăn chay cầu nguyện hay sao!
Luca thuật lại rằng, sau bữa tiệc lớn tại nhà Lêvi (tức Thánh Mathêu sau này) những người Pharisiêu và những người thông luật nói với Chúa Giêsu: “Môn đệ ông Gioan năng ăn chay cầu nguyện, môn đệ người Pharisiêu cũng thế, còn môn đệ ông thì ăn với uống” (Lc 6,33). Chúa Giêsu đã dùng những bữa ăn để cứu người tội lỗi như Mađalêna, Dakêu…
Cái mới của Chúa Giêsu làm cho người Pharisiêu và cả chúng ta khó hiểu đó là tất cả sứ điệp của Ngài, không còn phải là ăn chay hay ăn tiệc, nhưng tiên quyết là Yêu thương phát xuất từ tận đáy lòng mình. Như Thánh Augustinô sau này tóm tắt trong câu: “Hãy yêu rồi làm gì thì làm” (Ama et fac quod vis).
7. Chúa Giêsu không giữ luật Do Thái
Không những lui tới bạn bè, với kẻ tội lỗi, lại còn hay dự tiệc với họ, Chúa Giêsu không giữ luật lệ của cộng đồng người Do Thái đương thời. Ngài bất chấp luật phải rửa tay trước bữa ăn, đi thẳng vào bàn tiệc nên “ông Pharisiêu lấy làm lạ vì lúc đầu Ngài không rửa tay trước bữa ăn” (Lc 11,38). Ðặc biệt trong những ngày sabát, Ngài hay chữa lành bệnh tật cho người ta, và điều đó đối với người Do Thái đương thời cho là phạm luật. Phúc âm ghi lại nhiều sự kiện như thế, như việc chữa lành người bại tay (x. Lc 6,8-11), chữa người mắc bệnh phù thủng (x. Lc 14,1-6), chữa lành một phụ nữ còng lưng (x. Lc 13, 14)… Thánh sử Luca ghi rõ: “Ông trưởng hội đường tức tối vì Ðức Giêsu đã chữa lành bệnh vào ngày sabát (x. Lc 13,14). Ngài không giữ luật, và các môn đệ theo Ngài cũng không giữ luật: “Vào ngày sabát, Ðức Giêsu đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ đưa tay bứt lúa ăn. Nhưng có mấy người Pharisiêu nói: “Tại sao các ông làm điều không được phép làm trong ngày sabát” (Lc 6,1-2).
Nhưng trước những lời chỉ trích này, Chúa Giêsu trả lời: “Con người làm chủ ngày sabát” (Lc 6,9). Chúa Giêsu đến để làm trọn lề luật, để ban luật mới là luật yêu thương, là luật có chiều kích nội tâm, để xoá bỏ những lối giải thích lề luật rắc rối bên ngoài: “Khốn cho các ngươi giả hình, như má tô vôi, bên ngoài trắng trẻo mà bên trong thối tha” (Mt 23,13-36).
8. Chúa Giêsu như điên cuồng
Trong Toà Tổng trấn Philatô, lúc chịu xử án, Chúa Giêsu bị lính của Tổng trấn cho choàng áo đỏ, đội vương niệm bằng gai để chế nhạo như là kẻ điên cuồng. Nhưng không phải chỉ người ngoài, mà ngay cả Phêrô, người vừa được Chúa Giêsu cử sẽ làm đầu Hội thánh Ngài: “Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi…” (Mt 16,18), người được Chúa tin yêu như thế cũng không chịu nổi những lời nói như điên dại của Chúa Giêsu: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21). Ðiên dại vì gọi môn đệ theo mình, đồng thời thông báo mình phải chịu khổ đau, bị giết chết; và xem ra điên dại hơn nữa khi bảo rằng chết sau ba ngày sẽ sống lại! Và suốt cả các cuốn Phúc Âm trang nào cũng làm cho chúng ta ngạc nhiên về thái độ và lời nói khác lạ của Ngài: “Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em, hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em. Ai vả anh má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa. Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin thì hãy cho, ai lấy cái gì của anh, thì đừng đòi lại… (Lc 6,27-31).
Nói như thế, làm sao có thể nghe cho được, khi tâm tư ta còn sống trong tâm trạng “măt đền mắt, răng đền răng!”
Và tôi xin kể cho các bạn kinh nghiệm của tôi về sứ điệp “điên dại” này của Chúa Giêsu. Lúc tôi sống những năm tháng tù đày tại quê nhà, có lúc những người canh tù tâm sự cho tôi hay, họ thắc mắc và ngạc nhiên về thái độ vui cười, thân thiện của tôi đối với họ: trong hoàn cảnh này làm sao có thể thanh thản và dung thứ như thế được! Tôi đã có dịp chia sẻ các kinh nghiệm đó trong cuốn sách “Năm chiếc bánh, và hai con cá”, tôi vừa cho phổ biến trong năm này. Nhưng ở đây tôi muốn nói, chính sự “điên dại” của tình yêu thương Thiên Chúa đối với tôi, đối với mọi người là “khuyết điểm” làm tôi say mê hơn cả; sự điên dại đó lôi kéo tôi bước theo Chúa Giêsu!
9. Chúa Giêsu phiêu lưu
Một chương trình cứu chuộc toàn nhân loại, một dự tính gửi người đi rao truyền Phúc Âm cho mọi dân nước, mọi thế hệ, thế mà lại chọn và đặt hết tín nhiệm, quyền hành cho Phêrô, một người chài lưới bộp chộp, ít học rồi còn sợ sệt chối mình nữa!
Và về phương cách truyền bá, rao giảng nước Thiên Chúa, thì Chúa Giêsu lại dạy các môn đệ:“Anh em đừng mang gì đi đường, đừng mang gậy, bao bị, lương thực, tiền bạc, cũng đừng có hai áo” (Lc 9,3).
Phiêu lưu trong việc tuyển lựa các môn đệ, Chúa Giêsu còn bị ngay các môn đệ Ngài nghi ngờ là quá phiêu lưu. Khi Chúa Giêsu loan báo chương trình Ngài sẽ bị bắt nạp, bị giết chết và sẽ sống lại trong ngày thứ ba, thì “các môn đệ buồn phiền lắm” (Mt 17,23). Khi Chúa nói với họ: “Nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con người, các ông không có sự sống nơi mình” (Ga 6,53), thì “nhiều môn đệ của Ngài liền nói: “Lời này chướng ta quá! Ai mà nghe nổi” (Ga 6,60). Và, vì thấy lời giảng dạy của Chúa Giêsu khó nghe và phiêu lưu quá, nhiều môn đệ rút lui. Nên Chúa quay hỏi nhóm 12 Tông đồ: “Cả anh em nữa, anh em cũng bỏ đi sao?” (Ga 6,67).
Có lần khác, có người lại muốn đi theo Ngài làm môn đệ, nên hỏi: “Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin đi theo”. Người trả lời: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng con người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9,58).
Và cuộc phiêu lưu tột đỉnh của Yêu thương nơi Chúa Giêsu được diễn tả cô động nơi bài ca trong thư của Thánh Phaolô gửi giáo đoàn Philipphê:
“Ðức Giêsu Kitô
Vốn dĩ là Thiên Chúa

mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).

10. Chúa Giêsu có những lời giảng dạy xem ra mâu thuẫn
Mâu thuẫn vì Lời từ Thiên Chúa khác với lời chúng ta. Làm sao chúng ta thấy hợp lý được khi tuyên dương phúc cho kẻ nghèo, kẻ phải đói, kẻ phải khóc, kẻ bị người ta oán ghét (x. Lc 6,20-22).
“Ai muốn cứu mạng sống mình, thì phải mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,24).
Làm sao có thể ví Nước Thiên Chúa, Nước của Ðấng toàn năng, vô tận với một hạt cải (x. Lc 13,18-19).
Mà làm sao có thể tuyên xưng là “Con Thiên Chúa, Ðấng hằng sống” lại phải chấp nhận sự chết và chết nhục nhằn trên Thập giá (x. Lc 23,70).
Ngày 12-10-1998, có một cuộc tĩnh tâm linh mục quốc tế, tại thành phố Monterrey, nước Mexico: 91 giám mục, 1.500 linh mục tham dự. Lúc tôi vừa nói: Tôi yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu, các ngài nhìn nhau với vẽ ngạc nhiên, bỡ ngỡ! Nhưng nói đến đâu các ngài lại cười đến đó, cuối bài các ngài xúm lại quanh tôi và bảo: “Chúng tôi cũng yêu các khuyết điểm của Chúa Giêsu”.
***
Các bạn thân mến,
Bây giờ, sau khi chúng ta cùng nhau lược qua 10 khuyết điểm của Chúa Giêsu, 10 khuyết điểm ghi lại nơi các bản Phúc Âm, tôi lại một lần nữa xác quyết với các bạn rằng: vì tôi yêu 10 khuyết điểm này của Chúa Giêsu, nên chọn Chúa Giêsu làm Thầy, làm Mẫu-mực tuyệt đối cho đời tôi. Tôi cũng tâm sự với các bạn rằng, cho đến giây phút này, tôi không hề có một chút gì ân hận, Chúa Giêsu đã cuốn hút cuộc đời của tôi. Vì Chúa là Tình Yêu đã dẫn lối cho tôi đi, đặc biệt trong những ngày tháng tôi cảm thấy xao xuyến, bứt rứt; chúng đã đem lại nguồn vui và hy vọng cho tôi, nhất là trong những giây phút khổ đau, tưởng chừng như không thể chịu đựng nổi. Các bạn biết lý do tại sao không? Vì 10 khuyết điểm đó phát xuất từ Tình yêu thương mà Thiên Chúa là cha chúng ta ban cho để chúng ta được sống nhờ Chúa Giêsu: “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13).
Tình yêu đó không nhớ lỗi lầm, không tính toán, không xét nét, không vị kỷ, không phê phán, không câu chấp, không gò bó, không biên giới, không điều kiện; Tình yêu đó yêu điên cuồng đến độ phiêu lưu và hy sinh cả mạng sống mình; tình yêu đó khác với mẫu mực nhỏ hẹp của xã hội và của lối cân nhắc giới hạn của chúng ta. Chúa là Ðấng trọn lành, làm sao có khuyết điểm được, nhưng Chúa lại là tình yêu vô hạn, mầu nhiệm. Trí khôn loài người không hiểu nổi, không tin nổi, nên gọi là khuyết điểm! Khuyết điểm ấy lên đến cùng độ trên thánh giá. Cả 10 khuyết điểm cô đọng vào đó, khi người lính thách đố Chúa: “Nếu ông thật là con Thiên Chúa, hãy xuống khỏi Thánh giá để chúng tôi tin” “Chúa Giêsu thinh lặng, lại còn cầu nguyện: “Xin Cha tha cho họ…”. Lạy Chúa, lúc ấy Chúa không chết thì làm sao chúng con được sống đời đời.
Tôi khích lệ các bạn chọn lựa cuộc sống làm chứng 10 khuyết điểm tuyệt vời đó của Chúa Giêsu.
Và để chấm dứt buổi chia sẻ này tôi xin kể cho các bạn một sự kiện trong cuộc đời của một danh nhân thế giới đã từng chọn Chúa Giêsu, chọn giáo huấn của Ngài, một giáo huấn mà ông ấy cho là kỳ lạ, mâu thuẫn “Kitô giáo kỳ lạ” (Le Christianisme est étrange, Pascal, Pensées, no 537). Danh nhân ấy là ông Blaise Pascal (1623-1662). Khi ông Pascal vừa qua đời vào tuổi 39, người giúp việc trong gia đình xin người chị của ông cho phép mở gấu áo ông mặc lần cuối để xem ông thu giấu cái gì trong ấy. Vì mỗi lần thay áo cho ông, chị giúp việc thấy ông luôn mở gấu áo cũ lấy một cái gì trong ấy rồi lại tự may vào gấu áo mới. Người chị của Pascal cũng như người giúp việc cắt gấu áo và thấy có một miếng giấy nhỏ, trên ấy ghi vỏn vẹn câu sau đây:
“Sự sống đời đời là hiểu biết và yêu mến Ðức Kitô và Ðấng đã sai Người… lửa, lửa, lửa; nước mắt, nước mắt, nước mắt của tình yêu”. Ðó là bí quyết của B. Pascal một văn hào, một triết gia, một nhà toán học.
ĐHY P.X. Nguyễn Văn Thuận

Posted By Đỗ Lộc Sơn10:58

Thứ Năm, 26 tháng 3, 2015

Tâm tình Mùa Chay (Tập 25-34)

Filled under:











Posted By Đỗ Lộc Sơn18:11

Tìm Hiểu về Cuộc Khổ Giá Chúa Giêsu

Filled under:

Tuần Thánh, chúng ta tìm hiểu về Cuộc Khổ Nạn của Chúa Giêsu Kitô, để cùng đồng hành với Ngài trên Đường Thánh Giá, hiệp thông với đau khổ của Chúa Giêsu trên Thánh Gía, hầu xin ơn tha thứ tội lỗi của mình.
                Với ý hướng đó, xin chuyển đến Quý Vị bài sau đây. Kính chúc Quý Vị sống một Tuần Thánh, với tinh thần thật nhiệt thành hết lòng hết sức của mình, để tham dự vào mầu nhiệm cứu độ.

CHÚA GIÊSU KITÔ THỤ NẠN

(A). HỌC THUYẾT THÁNH THOMAS

I. CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU KITÔ (q.46)
1. Đủ Mọi Thứ Đau Đớn (a.5)
            Đau đớn của người ta có thể có hai cách:  
            MỘT là nói về loại, thì không cần cho Chúa Giêsu Kitô tất cả. Vì nói về loại có thể nghịch nhau, như lửa đốt, nước chìm. Đây chỉ nói về đau đớn do nguyên nhân ở ngoài, những thứ do nguyên nhân ở trong, như bệnh tật cơ thể, vẫn đáng cho Chúa Giêsu Kitô phải chịu.
            HAI là nói về giống đau đớn, thì Chúa Giêsu Kitô đã chịu tất cả. Thứ Nhất là vì người ta. Chúa Giêsu Kitô đã chịu vì người lương dân Do Thái, vì đàn ông, đàn bà. Người cũng có chịu đau đớn vì vua quan và dân. Ngay cả trong hàng ngũ những người thân thuộc quen biết, như Giuđa bán Người và Phêrô đã chối Người. Thứ Nhì là về những thứ người ta có thể đau đớn. Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn vì những người bạn hữu bỏ mình; vì những lời lộng ngôn phạm đến danh giá của mình, vì những lời nhạo báng như phạm đến danh dự và vinh quang của mình; vì người ta lấy hết y phục phạm đến tài sản của mình, đau đớn trong linh hồn vì buồn sầu, mệt nhọc và sợ hãi; trong thân thể vì thương tích và roi vọt.
            BA là trong chi thể. Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn trên đầu vì mão gai đâm vào; nơi tay chân vì các đinh đâm qua, trên mặt vì bị vả và bị khạc nhổ; trên toàn tấm thân vì bị đánh đòn. Hơn nữa, Người còn bị đau đớn trong cả các giác quan, về xúc giác khi chịu đánh đòn và đóng đinh vào thánh giá; về vị giác khi chịu nếm mật đắng và giấm chua; về khứu giác vì bị treo trên thánh giá ở một nơi thối tha với xác chết, gọi là núi Sọ; về thính giác vì phải nghe những lời lộng ngôn và nhạo báng; về thị giác vì trông thấy Thánh Mẫu và môn đệ mình yêu mến.
2. Hơn Tất Cả Mọi Thứ Đau Đớn (a.6)
            Trong khi thụ nạn, Chúa Giêsu Kitô đã chịu đau đớn thực sự, và cảm thấy gây nên vì hại đến cơ thể, và đau đớn nội tâm gây nên vì nhận thấy thiệt hại, đó là buồn sầu. Cả hai thứ đau đớn này nơi Chúa Giêsu Kitô đã lên đến cực điểm hơn mọi thứ đau đớn người ta chịu ở đời này:
            MỘT là vì nguyên nhân đau đớn, Nguyên nhân đau đớn hữu hình là hại đến cơ thể. Lên đến cực điểm vì giống đau đớn như đã nói ở trên; lại vì cách đau đớn. Vì chết bị đóng vào thập giá là vô cùng chua xót; bị đóng vào những chỗ có đường gân rất dễ cảm, như nơi bàn tay và bàn chân; trọng lượng của tấm thân bị treo lên tiếp tục gây thêm đau đớn; đã thế, lại còn đau đớn bị kéo dài, vì những người bị đóng vào thập giá không chết ngay như những người bị gươm giết.
            Còn nguyên nhân đau đớn nội tâm vẫn nhiều: Trước là tất cả tội lỗi của loài người mà Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn để bồi thường. Sau là tội của người Do Thái và những người đã gây nên cái chết cho Chúa Giêsu Kitô, nhất là những môn đệ đã sa ngã trong khi Chúa Giêsu Kitô lâm nạn. Cuối cùng là vì mất đời sống cơ thể, theo tự nhiên rất kinh khủng cho nhân tính.
            HAI là cường độ đau đớn gia tăng theo sức cảm thấy của nạn nhân, Thân của Chúa Giêsu Kitô đã được cấu tạo tuyệt đối hoàn toàn vì do Chúa Thánh Thần. Không có gì hoàn toàn hơn kết quả của phép lạ, như Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói nước hóa rượu Chúa Giêsu Kitô đã thực hiện trong bữa tiệc cưới ở Cana. Vì thế, xúc giác để nhận thấy đau đớn nơi Người vô cùng tinh vi. Còn linh hồn Người, theo các năng lực nội tâm, nhận thấy vô cùng hiệu lực tất cả các nguyên cớ buồn sầu.
            BA là vì đau đớn của Chúa Giêsu Kitô rất tinh tuyền. Khi người ta đau đớn, mối buồn sầu nội tâm và cả nỗi đau đớn ở ngoài có thể dịu bớt vì lý lẽ, theo các năng lực ở trên ảnh hưởng đến năng lực ở dưới. Nhưng nơi Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn thì không có như thế, vì Người đã cho phép năng lực nào thực hiện riêng năng lực ấy.
            BỐN là vì cường độ đau đớn của Chúa Giêsu Kitô là vì Người đã tự ý chọn lấy để giải phóng con người khỏi tội lỗi. Cho nên Người đã nhận cường độ tương đương với hậu quả.
3. Đau Đớn Hết Linh Hồn (a.7)
            Nói về toàn thể là theo các phần tử. Đau đớn hết linh hồn là đau đớn theo yếu thể của linh hồn, hay là tất cả các khả năng của linh hồn.
            Nên biết mỗi khả năng của linh hồn có thể đau đớn hai cách, MỘT  riêng theo đối tượng của mình, như thị giác đau đớn vì sáng chói quá; HAI  vì chủ thể, như thị giác đau đớn vì chạm đến con mắt là quan năng, như khi mắt bị chích hay bị nóng.
            Vậy nếu hiểu toàn linh hồn theo nghĩa yếu thể thì toàn linh hồn Chúa Giêsu Kitô đã chịu đau đớn, vì toàn yếu thể linh hồn kết hợp với cơ thể, khiến cho toàn linh hồn trong toàn cơ thể và trong mỗi phần của cơ thể. Vì thế, khi cơ thể của Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn và toan cách biệt linh hồn, thì toàn chính linh hồn cũng phải đau đớn.
            Còn hiểu theo nghĩa tất cả các khả năng, nói đến đau đớn riêng của từng khả năng, thì linh hồn Chúa Giêsu Kitô đau đớn theo tất cả các khả năng loại dưới, vì trong mỗi khả năng này tác động theo những thứ dưới đất, thì có nguyên nhân đau đớn của Chúa Giêsu Kitô như đã nói ở trên (a.5). Nhưng xét về lý ở trên, thì nơi Chúa Giêsu Kitô không đau đớn vì đối tượng là Thiên Chúa, Ngài không phải là nguyên nhân đau đớn cho linh hồn Chúa Giêsu Kitô, nhưng là nguyên nhân khoái lạc và vui mừng.
            Nói về cách thứ hai đau đớn cho một khả năng nào về chủ thể, có thể nói tất cả các khả năng linh hồn Chúa Giêsu Kitô đều đau đớn. Vì các khả năng này đều đâm rễ trong yếu thể linh hồn và linh hồn đau đớn khi cơ thể đau đớn.
4. Trong Khi Đau Đớn, Toàn Linh Hồn Chúa Giêsu Kitô Vẫn Trông Thấy Thiên Chúa (a.8)
            Nói về yếu thể, toàn linh hồn Chúa Giêsu Kitô vẫn hưởng thụ như là chủ thể phần trên của linh hồn, là hưởng thụ Thiên Chúa.
            Còn nói toàn linh hồn về nghĩa tất cả các khả năng, thì không phải toàn linh hồn được hưởng thụ, không trực tiếp, vì hưởng thụ không thể là tác động của mỗi phần linh hồn; cũng không phải qua việc chiếu lại vinh quang, vì khi Chúa Giêsu Kitô đương còn ở dưới đất này, không có chiếu lại vinh quang từ phần trên đến phần dưới, hay là từ linh hồn qua cơ thể. Nhưng ngược lại, phần trên của linh hồn không bị ngăn trở vì việc riêng của phần dưới, như thế thì phần trên vẫn được hưởng thụ hoàn toàn trông thấy Thiên Chúa, trong lúc Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn.
5. Thời Kỳ Thích Đáng (a.9)
            Việc thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là tùy theo ý Người. Mà ý Người theo khôn ngoan của Thiên Chúa sắp đặt mọi sự thích đáng và ngọt ngào. Vậy phải nhận Chúa Giêsu Kitô thụ nạn vào thời kỳ thích đáng.
6. Nơi Chốn Thích Đáng (a.10)
            Thánh Augustin có nói ‘Đấng cứu độ làm vạn sự vào nơi chốn và thời kỳ riêng’. Vì mọi sự đều trong tay Người và nơi nào cũng thế. Vậy Chúa Giêsu Kitô đã thụ nạn không những trong thời kỳ thích đáng, lại cả nơi chốn cũng thích đáng.
7. Chịu Đóng Vào Thánh Giá Cùng Hai Người Trộm Cướp (a.11)
            Nói về ý người Do Thái, như Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói, họ đóng hai người trộm cướp trên hai thập giá hai bên để cho Chúa Giêsu Kitô cũng chịu sỉ nhục với chúng. Nhưng không có như thế. Không ai nói gì đến chúng. Còn thánh giá của Chúa Giêsu Kitô thì được tôn kính khắp nơi; các vua bỏ vương miện xuống và cầm thánh giá lên; trên cẩm bào, trên vương miện, trên khí giới, trên bàn thánh, khắp nơi trên mặt đất, đều chiếu sáng thánh giá.
            Còn nói về ý của Thiên Chúa, Chúa Giêsu Kitô chịu đóng vào thánh giá giữa hai người trộm cướp:
            MỘT là vì như lời Thánh Jérôme ‘Chúa Giêsu Kitô đã muốn chịu nhục thập giá thay cho chúng ta, nên đã chịu đóng vào thập giá như một người tội ác giữa hai tên tội ác để giải thoát mọi người’.
            HAI là vì như Thánh Lêo đã nói ‘Hai người trộm cướp bị đóng vào thập giá, một bên hữu và một bên tả Chúa Giêsu Kitô, để chứng tỏ trong ngày Chúa Giêsu Kitô phán xét sẽ phân biệt mọi người thế ấy’. Và Thánh Augustin cũng nói ‘Ai để ý thì hiểu thánh giá này như một tòa án. Quan tòa ở giữa. Người tin thì được giải phóng; người nói xúc phạm thì bị luận phạt. Thế là có nghĩa về người sống và kẻ chết trong tương lai, đặt người này bên hữu và người kia bên tả’.
            BA là theo Thánh Hilaire ‘Hai người trộm cướp bị đóng bên tả và bên hữu tỏ ra mọi giai cấp nhân loại đều được gọi đến mầu nhiệm thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô; phân chia mọi người tín hữu và thất tín bên hữu và bên tả, một người trong hai bên, bên hữu thì được cứu thoát nhờ đức tin công chính hóa’.
            BỐN là như Thánh Bêđa đã nói ‘Hai người trộm cướp bị đóng vào thập giá với Chúa Giêsu Kitô, tượng trưng những người sống theo đức tin và tuyên xưng Chúa Giêsu Kitô, hoặc phải gian truân tử đạo, hoặc chọn một cuộc đời khắc khổ hơn. Người trộm cướp bên hữu tượng trưng những người hành động vì vinh quang vĩnh viễn, còn những kẻ có ý tìm được người ta khen ngợi, thì bắt chước theo tinh thần và hành động của tên trộm cướp bên trái’.
8. Không Quy Về Thiên Tính (a.12)
            Trong Chúa Giêsu Kitô, nhân tính và thiên tính hợp với nhau trong chủ vị, nhưng vẫn khác nhau hai tính. Vì thế, có thể quy thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô về chủ vị của thiên tính, không phải vì thiên tính là tính không chịu đau đớn, nhưng vì nhân tính.

II. NGUYÊN NHÂN (q.47)
1. Hai Cách (a.1)
            Có hai cách nói về nguyên nhân:
            MỘT là trực tiếp. Theo cách này, chính những ngưới bách hại Chúa Giêsu Kitô đã giết Người, vì họ đã làm cho Người phải những cực hình đến nỗi phải chết, với ý muốn giết Người.
            HAI là gián tiếp. Vì không ngăn trở hậu quả khi có thể làm được, như người không đóng cửa khi họ có thể đóng, để cho nước mưa hắt vào ướt một người kia. Theo nghĩa này, chính Chúa Giêsu Kitô là nguyên nhân cho Người thụ nạn và tử nạn. Vì Người có thể ngăn trở, trước là vì Người có thể tránh các kẻ chống đối để cho họ đừng muốn hay không thể giết Người. Sau nữa, vì tinh thần Người có quyền bảo vệ bản tính nhục thể của Người không phải thiệt hại vì một thương tích nào, vì linh hồn Chúa Giêsu Kitô đã kết hợp với Ngôi Lời Thiên Chúa, như Thánh Augustin đã nói. Vì linh hồn Chúa Giêsu Kitô không xua đẩy những thứ hại đến cơ thể Người, nhưng đã muốn cho cơ thể Người chịu lấy thiệt hại đó, cho nên có thể nói, tự ý Người phú bỏ linh hồn hay là chịu chết.
2. Vì Vâng Lời (a.2)
            MỘT là đáng để công chính hóa nhân loại, như Thánh Phaolô đã nói ‘Cũng như vì sự bất tuân của một người mà muôn người bị kể là tội nhân, thì nhờ sự tòng phục của một Đấng, muôn người được kể là công chính’ (Rm 5,19).
            HAI là đáng để hòa giải người ta với Thiên Chúa, như Thánh Kinh có câu ‘Vâng lời có giá hơn lễ phẩm’ (1 Sm 15,22).
            BA là đáng để Chúa Giêsu Kitô toàn thắng cái chết và thần chết. Một binh sĩ chỉ thắng trận nhờ vâng lời tướng lãnh. Chúa Giêsu Kitô đã thắng trận nhờ vâng lời Thiên Chúa.
3. Vì Đức Chúa Cha (a.3)
            MỘT là theo ý vĩnh cửu của Đức Chúa Cha đã muốn từ trước, Chúa Giêsu Kitô thụ nạn để giải phóng loài người.
            HAI là Đức Chúa Cha đã cho Chúa Giêsu Kitô có ý muốn chịu đau đớn vì chúng ta bằng cách cho Người tình yêu mến.
            BA là Đức Chúa Cha không giữ Chúa Giêsu Kitô khỏi thụ nạn, lại phó Người cho những kẻ bách hại, như Thánh Augustinđã giải thích lời Chúa Giêsu Kitô trên thánh giá ‘Sao Cha bỏ Con?’.
4. Vì Những Người Do Thái và Lương Dân (a.4)
            Chúa Giêsu Kitô thụ nạn có hậu quả cứu độ những người Do Thái, nhiều người trong số này đã được Rửa Tội. Sau nữa, để những người Do Thái ra đi giảng đạo, chuyển hậu quả thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô sang cho người lương dân.
5. Vì Những Kẻ Bách Hại Mà Không Giết Người (a.5)
            Trong số những người Do Thái, có người lớn kẻ nhỏ. Người lớn là những người có quyền thế, cũng như ma quỷ, họ biết ‘Chúa Giêsu Kitô là Vị Cứu Tinh mà sách Luật đã hứa, vì họ đã thấy mọi dấu hiệu các tiên tri đã nói trước về tương lai, nhưng họ không biết mầu nhiệm thiên tính’, cho nên Thánh Tông Đồ đã nói ‘Giá họ biết, họ đã không đóng Thiên Chúa vinh quang vào thánh giá’ (1 Cr 2,8).
            Nhưng việc họ không biết không tha thứ họ khỏi tội ác, vì chính họ đã cố ý một cách nào không biết. Vì họ đã trông thấy những dấu hiển nhiên về thiên tính, nhưng vì ganh ghét Chúa Giêsu Kitô, họ đã thay đổi ý nghĩa những dấu hiệu đó và họ không muốn tin những lời Chúa Giêsu Kitô tự nhận mình là Con Thiên Chúa.
            Còn kẻ nhỏ là dân chúng, không biết những mầu nhiệm trong Thánh Kinh, không biết đầy đủ chính Người là Vị Cứu Tinh, cũng không biết là Con Thiên Chúa; tuy có một vài người trong bọn họ tin Chúa Giêsu Kitô, nhưng đa số không tin. Nếu có khi họ nghi ngờ hay chính Người là Vị Cứu Tinh, vì có nhiều dấu lạ và đạo lý rất hiệu lực, nhưng rồi họ bị những người có quyền thế đánh lừa, nên họ không tin Chúa Giêsu Kitô là Con Thiên Chúa, cũng không tin là Vị Cứu Tinh.
6. Tội Nặng Nhất (a.6)
            Như vừa thấy ở trên, những người Do Thái có quyền thế đã biết Chúa Giêsu Kitô, nếu họ có không biết thế nào, đó là vì họ muốn không biết nên không thể tha thứ. Vì thế, tội của họ rất nặng, vì theo loại tội đó, lại vì tự họ có ác ý.
            Còn dân chúng Do Thái có tội rất nặng nếu xét về loại tội đó, nhưng vì họ không biết thì cũng bớt được phần nào. Nói đến tội những người lương dân lại có nhiều cớ đáng được tha thứ, tuy tay họ đã đóng Chúa Giêsu Kitô vào thánh giá, nhưng họ không biết Luật (trong Thánh Kinh của người Do Thái).

III. CÁCH THỨC SINH HẬU QUẢ (q.48)
1. Công Nghiệp (a.1)
            Chúa Giêsu Kitô đã nhận ơn thánh không những vì riêng Người, lại còn vì Người là đầu Giáo Hội, để cho ơn nơi Người truyền xuống các chi thể. Vì thế, các việc của Chúa Giêsu Kitô làm cho Người và cho chi thể của Người, như những việc của một người đương có ơn thánh làm cho chính mình. Ai đương có ơn thánh mà chịu đau đớn vì công chính, thì vì đó đáng được cứu độ. Theo đó, Chúa Giêsu Kitô thụ nạn thì đáng được cứu độ không những cho mình, lại còn cho tất cả các chi thể của mình.
2. Bồi Thường (a.2)
            Đền tội cho thực là hiến tặng cho Vị bị xúc phạm một việc yêu mến bằng hay là hơn việc xúc phạm. Vì yêu mến và vâng lời, Chúa Giêsu Kitô đã chịu đau đớn là hiến tặng Thiên Chúa thứ gì lớn hơn tất cả tội lỗi của nhân loại đòi hỏi phải bồi thường.
            MỘT là vì tính cách cao trọng tình yêu mến khiến cho Chúa Giêsu Kitô chịu đau đớn.
            HAI là vì phẩm giá đời sống của Chúa Giêsu Kitô đã hiến tặng để bồi thường, là đời sống vừa của Thiên Chúa, vừa của người ta.
            BA là vì toàn thể thụ nạn và tính cách cao trọng đau đớn Chúa Giêsu Kitô đã nhận.
            Vì thế, thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là một việc bồi thường không những đầy đủ, lại còn dư dật cho tội lỗi loài người. Như Thánh Gioan đã nói ‘Chính Người đền tội lỗi chúng ta, không những của chúng ta mà thôi, nhưng còn cho cả thế giới’ (1 Ga 2,2).
3. Tế Lễ (a.3)
            Tế lễ là hiến dâng Thiên Chúa tôn kính thích đáng cho đẹp lòng Người. Như Thánh Augustin đã nói ‘Tế lễ cho Thiên Chúa, nghĩa là có mục đích tốt lành khiến cho mình Chúa Giêsu Kitô là Đấng Trung Gian duy nhất, và thực sự đã dùng việc tế lễ hòa bình mà hòa giải chúng ta với Thiên Chúa, Người tồn tại làm một với Đấng nhận lễ phẩm, dâng thay cho ai thì là một với những người đó ngay tự nơi mình, chính mình dâng hiến và lễ phẩm vẫn là một’.
4. Cứu Chuộc (a.4)
            Vì tội lỗi, người ta mắc hai điều: MỘT  nô lệ vì tội lỗi. Ma quỷ thắng người ta trong khi thúc đẩy người ta phạm tội; như thế, người phạm tội trở nên nô lệ ma quỷ. HAI  phần phạt, người phạm tội mắc lấy theo phép công bình của Thiên Chúa. Đây cũng là một thứ nô lệ vì phải đau đớn trái ý mình, người tự do đối với họ theo ý họ.
            Vậy thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô vẫn đầy đủ và dư dật để bồi thường tội lỗi và phần phạt của loài người, như thể là một món tiền chuộc để giải phóng chúng ta khỏi hai món nợ đó. Vì bồi thường cho mình hay cho người khác là một thứ tiền chuộc mình hay chuộc người khác ra khỏi tội lỗi và hình phạt. Chúa Giêsu Kitô bồi thường, không phải là nộp tiền bạc hay một thứ gì trong loại đó, nhưng là hiến tặng thứ gì quý nhất, là hiến tặng chính mình vì chúng ta. Cho nên việc Chúa Giêsu Kitô thụ nạn là cứu chuộc chúng ta.
5. Chúa Giêsu Kitô Thực Là Thiên Chúa Cứu Chuộc (a.5)
            Trong việc mua chuộc có hai điều: MỘT  trả; HAI  giá phải trả. Ai trả giá chuộc một người nào không phải với của mình, lại với của người khác, thì không chính mình, nhưng chính mình bỏ của ra mới là người đứng chuộc. Vậy giá chuộc chúng ta là Máu Chúa Giêsu Kitô, hay là đời sống cơ thể của Người, là chính Người đã trả. Cho nên trả giá và giá trả đều trực tiếp của Chúa Giêsu Kitô về phương diện là người, nhưng cũng của toàn cả Ba Ngôi Thiên Chúa là nguyên nhân đầu tiên và xa; vì chính đời sống của Chúa Giêsu Kitô cũng do Ba Ngôi Thiên Chúa là tác giả đệ nhất, và chính Ba Ngôi Thiên Chúa đã gợi ý cho Chúa Giêsu Kitô về phương diện người ta chịu đau đớn vì nhân loại.
            Vì thế, riêng Chúa Giêsu Kitô về phương diện người ta là Đấng Cứu Chuộc trực tiếp, mặc dù chính việc cứu chuộc có thể quy về toàn Ba Ngôi Thiên Chúa như nguyên nhân đầu tiên.
6. Tác Thành (a.6)
            Có hai nguyên nhân tác thành: MỘT  nguyên nhân chính; HAI  nguyên nhân dụng cụ. Nguyên nhân chính tác thành cứu độ người ta là Thiên Chúa. Vì nhân tính nơi Chúa Giêsu Kitô là ‘dụng cụ của thiên tính’. Do đó, mọi tác động và đau đớn của Chúa Giêsu Kitô đều thực hiện như dụng cụ theo quyền lực thiên tính để cứu độ loài người. Theo nghĩa này, thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là nguyên nhân tác thành cứu độ loài người.

IV. CHÍNH HẬU QUẢ (q.49)
1. Giải Phóng Khỏi Tội Lỗi (a.1)
            Thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là nguyên nhân chính tha thứ tội lỗi:
            MỘT là theo cách gây nên đức ái. Như Thánh Phaolô đã nói ‘Thiên Chúa chứng tỏ lượng Ngài thương yêu ta, vì khi ta đương còn là kẻ tội lỗi, đến giờ đã định, Chúa Giêsu Kitô chịu chết cho ta .....’ (Rm 5,8-9). Nhờ đức ái thì được tha tội, lời Chúa Giêsu: ‘Vì thế, tôi nói cho ông hay: Tội của chị ta rất nhiều, nhưng đã được tha, bằng cớ là chị ấy đã yêu mến nhiều. Còn ai được tha ít thì yêu mến ít’ (Lc 8,47).
            HAI là theo cách cứu chuộc. Vì Chúa Giêsu Kitô là đầu chúng ta, Người đã thụ nạn vì vâng lời, và yêu mến để giải phóng chúng ta là chi thể của Người khỏi điều tội lỗi; thụ nạn của Người là như giá chuộc tội.
            BA là theo cách tác thành, vì nhục thể theo đó Chúa Giêsu Kitô đã thụ nạn là ‘dụng cụ của thiên tính’, từ dụng cụ này các đau đớn và động tác của Chúa Giêsu Kitô thực hiện trong quyền lực Thiên Chúa đã đánh đuổi tội lỗi.
2. Giải Phóng Khỏi Ma Quỷ (a.2)
            Trước khi Chúa Giêsu Kitô thụ nạn, sức lực của ma quỷ có ba cách động đến người ta:
            MỘT là vì tội lỗi, người ta đáng bỏ cho sức lực ma quỷ đã thắng bằng cám dỗ.
            HAI là vì người ta đã phạm tội xúc phạm Thiên Chúa thì Ngài công bình bỏ người ta theo sức lực ma quỷ.
            BA là vì ma quỷ có ý chí vô cùng độc ác ngăn trở không cho người ta được cứu độ.
            Theo mỗi cách này, thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô đã có những hiệu quả. MỘT  giải phóng con người khỏi sức lực ma quỷ vì đã tha tội. HAI  giải phóng khỏi sức lực ma quỷ vì hòa giải chúng ta với Thiên Chúa. BA  giải phóng chúng ta khỏi ma quỷ, vì trong khi Chúa Giêsu Kitô thụ nạn, ma quỷ đã vượt quá sức lực Thiên Chúa đã ban cho nó, chính nó tìm cách làm cho Chúa Giêsu Kitô phải chết, mặc dù Người không đáng chết, vì Người không có tội.
3. Giải Phóng Khỏi Phần Phạt (a.3)
            MỘT là trực tiếp, vì thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô đầy đủ và dư dật để đền tội cho cả loài người. Đền tội đầy đủ thì cũng hết phần phạt.
            HAI là gián tiếp, vì thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là nguyên nhân tha tội, mà phần phạt là vì tội (đã tha tội thì cũng tha phần phạt).
4. Giải Hòa Với Thiên Chúa (a.4)
            MỘT là vì thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô cất hết tội lỗi, là điều làm cho người ta thành ra thù địch Thiên Chúa.
            HAI là vì thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô là tế lễ rất đẹp lòng Thiên Chúa.
5. Mở Cửa Thiên Đàng (a.5)
            Cửa đóng thì không vào được. Tội lỗi ngăn trở không cho người ta vào Nước Trời. Có hai thứ tội:
            MỘT là tội chung cho cả nhân tính, là tội nguyên tổ. Tội này đã đóng cửa Nước Trời cho mọi người.
            HAI là tội riêng của mỗi người, là tội người ta phạm vì động tác của họ.
            Nhờ thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô, chúng ta được giải phóng không những khỏi tội chung cho nhân tính, cả về tội lỗi và phần phạt, vì Chúa Giêsu Kitô đã trả giá chuộc chúng ta; lại còn giải phóng được khỏi tội riêng của mỗi người hiệp thông với thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô bằng đức tin, đức ái và các bí tích đức tin. Như thế là thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô mở cửa Nước Trời cho chúng ta.
6. Được Cao Thăng (a.6)
            Trong khi thụ nạn, Chúa Giêsu Kitô đã hạ mình xuống dưới phẩm giá của Người bằng bốn cách:
            MỘT là vì Người đã chịu đau đớn và chịu chết, vốn Người không đau như thế.
            HAI là vì nơi chốn, thân Người đã chịu đặt trong mồ, và linh hồn Người xuống âm ty.
            BA là vì những sỉ nhục Người đã chịu.
            BỐN là vì Người đã chịu nộp vào quyền người ta.
            Vì thế, Chúa Giêsu Kitô đã đáng được vinh thăng bằng bốn cách: MỘT  Người đã sống lại vinh quang. HAI  Người đã lên trời. BA  Người đã ngự bên hữu Đức Chúa Cha và tỏ hiện thiên tính của Người. BỐN  vì quyền phán xét của Người.

V. TỬ NẠN (q.50)
1. Đáng Cho Chúa Giêsu Kitô Chịu Chết (a.1)
            MỘT là để bồi thường cho nhân loại đã bị phạt chết vì tội nguyên tổ. Bồi thường tương xứng thay cho một người khác là chịu lấy phần phạt họ đã đáng. Vì thế, Chúa Giêsu Kitô đã chịu chết để bồi thường thay cho chúng ta.
            HAI là để chứng tỏ thực nhân tính Người đã nhận.
            BA là giải phóng chúng ta khỏi sự chết.
2. Thiên Tính và Nhục Thể (a.2)
            Điều gì đã ban theo ơn thánh, nếu không có tội lỗi, thì không bao giờ bị lấy lại. Ơn kết hợp làm cho thiên tính kết hợp với nhục thể Chúa Giêsu Kitô trong một chủ vị rất lớn hơn ơn lập tự làm cho ta được nên thánh; ơn kết hợp cũng trường tồn hơn, vì theo bản tính, ơn này để kết hợp trong chủ vị, còn ơn lập tự để kết hợp trong tình yêu mến. Và ta thấy ơn lập tự không mất nếu không có tội lỗi. Nơi Chúa Giêsu Kitô không hề có tội gì, thì thiên tính không thể thôi kết hợp với nhục thể của Người, cả trước và sau khi Người chịu chết.
3. Thiên Tính và Linh Hồn (a.3)
            Linh hồn kết hợp với Ngôi Lời Thiên Chúa trực tiếp và gần gũi hơn cơ thể, vì cơ thể kết hợp với Ngôi Lời qua trung gian linh hồn. Khi Chúa Giêsu Kitô chịu chết, Ngôi Lời không rời bỏ cơ thể thì càng không rời bỏ linh hồn.
4. Con Người Của Chúa Giêsu Kitô (a.4)
            Chúa Giêsu Kitô chịu chết thực, đó là một tín điều. Vậy nói điều gì trái với việc Chúa Giêsu Kitô chịu chết thực, là sai lầm trái tín điều. Nói về một người hay một con thú chết thực, thì không còn là người hay thú nữa. Vì thế, nói trong ba ngày Chúa Giêsu Kitô chịu chết, vẫn còn là người, nói như thế một cách tuyệt đối là nói một điều sai lầm. Nhưng có thể nói trong ba ngày đó, Chúa Giêsu Kitô là ‘người đã chết’.
            Tuy nhiên, có người nói trong ba ngày đó, Chúa Giêsu Kitô vẫn là người; vẫn hay đó là một lời sai lầm, nhưng không có nghĩa sai lầm về tín lý. Như Hugues de Saint Victor (1100-1141) đã nói như thế, vì ông tin có linh hồn là người, nhưng đây là một điều sai lầm như đã nói trong phần thứ nhất (q.75 a.4).
            Pierre Lombard cũng nói như thế, nhưng vì một lý khác, vì ông tin người ta không cần phải có linh hồn kết hợp với cơ thể, nhưng chỉ cần có một linh hồn và một cơ thể, kết hợp hay không, cũng vẫn là con người. Đây cũng là một điều sai lầm như đã nói trong phần thứ nhất (q.76 a.1).
5. Trước Và Sau Vẫn Là Một Tấm Thân (a.5)
            Nói rằng thân Chúa Giêsu Kitô đã chịu chết vẫn còn hoàn toàn là một như khi còn sinh tiền, nghĩa là không chịu hư hỏng vì chết, nói như thế là lạc đạo. Theo Thánh Jean Damascène ‘từ –  hỏng – có hai nghĩa: MỘT là nghĩa phân cách linh hồn và thân xác và các điều tương tự; HAI là trở về những nguyên tố vật chất. Vậy nói theo nghĩa trước là một điều vô đạo, vì thân Chúa Giêsu Kitô lại không đồng một bản chất như chúng ta, Chúa Giêsu Kitô đã không chết thực sự, và chúng ta cũng không được cứu thực sự. Nhưng hiểu về nghĩa thứ hai, thì thân Chúa Giêsu Kitô không hư hỏng’.
6. Cứu Độ Chúng Ta (a.6)
            Nói về Chúa Giêsu Kitô chịu chết có hai cách: MỘT  đương thực hiện và HAI  đã thực hiện rồi. Khi đương thực hiện, là khi Chúa Giêsu Kitô thụ nạn. Nói về nghĩa này thì Chúa Giêsu Kitô chịu chết là nguyên nhân cứu độ chúng ta.
            Còn nói đã thực hiện rồi, là sau khi tấm thân và linh hồn đã phân cách nhau. Về nghĩa này, Chúa Giêsu Kitô đã chết không còn là nguyên nhân cứu độ chúng ta theo nghĩa công nghiệp, nhưng chỉ theo nghĩa tác thành. Vì khi Chúa Giêsu Kitô đã chết, thiên tính vẫn không rời bỏ nhục thể, dù phân cách khỏi linh hồn, nhục thể này vẫn còn có giá trị lợi ích cho chúng ta vì còn kết hợp với thiên tính.
            Hậu quả nào cũng theo hình ảnh nguyên nhân. Chết là không còn sống. Hậu quả cái chết của Chúa Giêsu Kitô là cất những thứ gì phản ngược với việc cứu độ chúng ta, là chết linh hồn và chết cơ thể. Vì thế mới nói, chết của Chúa Giêsu Kitô phá hủy nơi ta chết của linh hồn vì tội lỗi. Như Thánh Phaolô đã nói ‘Người đã chấp nhận nộp mình để chịu chết vì tội lỗi chúng ta’ (Rm 4,25); và phá hủy cái chết cơ thể là phân cách khỏi linh hồn ‘cái chết đã tiêu tan trong thắng trận’ (1 Cr 15,54).

VI. AN TÁNG (q.51)
1. Chúa Giêsu Kitô Chịu An Táng Là Điều Xứng Đáng (a.1)
            MỘT là để chứng minh Người chết thực. Người ta đặt thi hài vào mồ sau khi đã biết chắc chết thực.
            HAI là kể khi Người sống lại ra khỏi mồ thì cho những người ở trong mồ, hy vọng nhờ Người mà được sống lại.
            BA là để làm gương cho những người nhờ Chúa Giêsu Kitô chịu chết, mà chết thiêng liêng cho tội lỗi của mình. Như ThánhPhaolô đã nói ”Nhờ phép Rửa Tội trong thụ nạn, ta đã được an táng với Người” (Rm 6,4).
2. Chúa Giêsu Kitô Đã Chịu An Táng Theo Cách Xứng Đáng (a.2)
            MỘT là giúp cho người ta thêm tin Người đã chịu chết và đã sống lại.
            HAI là khen ngợi lòng đạo đức của những kẻ đã an táng Người.
            BA là dạy qua mầu nhiệm này, cho những người được an táng với Chúa Giêsu Kitô. ‘Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được an táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, thì chúng ta cũng được sống một đời sống mới’ (Rm 6,4).
3. Thân Chúa Giêsu Kitô Không Trở Thành Tro Bụi (a.3)
            Một tấm thân phải hư hỏng vì tính yếu đuối, không thể giữ được tính cách duy nhất. Như đã nói, Chúa Giêsu Kitô không chịu chết vì bản tính yếu đuối. Chính vì Người muốn chịu chết, không phải do tật bệnh, nhưng là vì tự ý chịu nạn. Để cho thiên hạ đừng nghĩ Người chết vì tính yếu đuối, Chúa Giêsu Kitô đã không muốn cho cơ thể Người phải hư hỏng, hay là trở về những nguyên tố vật chất, bất cứ một cách nào. Để tỏ quyền lực của Thiên Chúa, Người đã muốn cho thân Người vẫn tồn tại không hư hỏng.
4. Chỉ Ở Trong Mồ Một Ngày và Hai Đêm (a.4)
            Thời gian này tượng trưng hậu quả Người chịu chết. Như đã nói, nhờ Chúa Giêsu Kitô chịu chết, chúng ta được giải phóng khỏi hai cái chết: Chết linh hồn và chết cơ thể, tượng trưng bằng hai đêm Chúa ở trong mồ. Người chịu chết không vì tội lỗi của Người, nhưng vì yêu thương, thì giống như ngày, không phải như đêm, nên tượng trưng bằng một ngày toàn vẹn Chúa Giêsu Kitô đã ở trong mồ.

VII. XUỐNG ÂM TY (q.52)
1. Chúa Giêsu Kitô Xuống Âm Ty Là Điều Xứng Đáng (a.1)
            MỘT là để đưa chúng ta ra khỏi hình phạt, vì chính Người đã đến để mang lấy tội lỗi chúng ta. Vì tội lỗi, con người không những đáng chết về cơ thể, nhưng còn đáng xuống hỏa ngục. Vậy Chúa Giêsu Kitô đã chịu chết để giải phóng chúng ta khỏi chết, thì Người xuống âm ty là xứng đáng để giúp chúng ta khỏi phải xuống đó.
            HAI là để giải phóng những người bị giam cầm trong tay ma quỷ, vì thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô đã thắng ma quỷ.
            BA là để chứng tỏ quyền phép Người trong âm ty khi Người đến thăm và chiếu sáng, như Người đã tỏ quyền phép của Người trên mặt đất trong lúc Người sinh hoạt và chịu chết.
2. Không Xuống Hỏa Ngục (a.2)
            Có hai cách ở một nơi nào:
            MỘT là vì hậu quả. Theo nghĩa này, Chúa Giêsu Kitô đến các ngục người chết theo những cách khác nhau. Vì trong hỏa ngục, Người đến để cho những linh hồn ở đó phải sỉ nhục, vì đã không tin và độc ác. Người vào trong luyện ngục để cho những linh hồn ở đó hy vọng được vinh quang. Người vào âm ty, có các tổ phụ ở đó chỉ vì tội nguyên tổ, Người đã cho họ thấy ánh sáng vinh quang vĩnh cửu.
            HAI là vì yếu thể. Theo nghĩa này, Chúa Giêsu Kitô chỉ xuống ngục những người công chính, để thăm viếng ngay tại nơi đó với linh hồn của Người, những kẻ Người đã thăm viếng nội tâm bằng cách ban cho họ ơn thánh qua thiên tính của Người. Như thế là đến trong một nơi, Người đã chiếu dọi một cách nào hậu quả của Người khắp những nơi khác, như Người thụ nạn một nơi trên mặt đất, Người đã giải phóng toàn cả thế giới.
3. Toàn Cả Chúa Giêsu Kitô Đến Trong Âm Ty (a.3)
            Khi Chúa Giêsu Kitô chịu chết, nếu linh hồn phân cách cơ thể, cả linh hồn và cả cơ thể đều không phân cách khỏi chủ vị Con Thiên Chúa. Vì thế, trong ba ngày Người chịu chết, toàn Chúa Giêsu Kitô vẫn ở trong mồ, vì toàn chủ vị của Người vẫn ở đó theo cơ thể vẫn kết hợp với Người. Cũng một cách đó, toàn thể của Người vẫn ở nơi âm ty vì toàn chủ vị của Người vẫn ở đó vì linh hồn vẫn kết hợp với chủ vị. Cũng như Chúa Giêsu Kitô vẫn ở khắp nơi vì thiên tính của Người.
4. Ở Lại Ít Lâu (a.4)
            Cơ thể của Người ở trong mồ một ngày và hai đêm để chứng minh Người chết thực. Vì thế, phải tin linh hồn Người ở trong âm ty trong khoảng thời gian đó, để cùng trong một lúc linh hồn Người ra khỏi âm ty với cơ thể ra khỏi mồ.
5. Giải Phóng Các Tộc Trưởng Do Thái (a.5)
            Khi Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty thì tác động theo quyền lực thụ nạn của Người. Với việc thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô, nhân loại được giải phóng không những khỏi tội lỗi, lại còn được giải phóng khỏi phần phạt. Người ta bị phạt vì hai cớ: MỘT  vì tội mình phạm; HAI  vì tội của toàn nhân tính. Phần phạt tội này là chết về cơ thể và không được sống vinh quang. Vì thế, khi xuống âm ty, với quyền lực thụ nạn, Người đã giải phóng các thánh khỏi phần phạt mất đời sống vinh quang, khiến cho các ngài không được thấy yếu thể Thiên Chúa là hạnh phúc hoàn toàn của con người. Các thánh tộc trưởng Do Thái đã bị giữ trong âm ty, vì cửa đời sống vinh quang đã không mở cho các ngài vì tội nguyên tổ. Như thế, Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty đã giải phóng các ngài khỏi chốn giam cầm.
6. Không Giải Phóng Những Người Khác Đã Bị Phạt (a.6)
            Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty chỉ giải phóng những người được kết hợp với việc thụ nạn của Người, nhờ có đức tin hợp với đức ái cất hết tội lỗi. Còn những người ở trong ngục những kẻ bị phạt, hoặc đã không tin Chúa Giêsu Kitô thụ nạn, như những người ngoại giáo, hoặc đã có lòng tin, nhưng không được giống chút nào với đức mến của Chúa Giêsu Kitô thụ nạn. Họ chưa được trong sạch hết tội của họ. Vì đó, việc Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty không giải phóng họ khỏi phần phạt hỏa ngục.
7. Không Giải Phóng Trẻ Con Đương Mắc Tội Nguyên Tổ (a.7)
            Vì chúng không được kết hợp với thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô nhờ đức tin và đức ái. Chúng không thể tin vì chưa dùng được tự do, cũng không được hết tội nguyên tổ nhờ đức tin của cha mẹ hay là bí tích nào vì đức tin.
            Còn các thánh tộc trưởng được giải phóng khỏi âm ty thì được vào vinh quang trông thấy Thiên Chúa. Chỉ có nhờ ơn thánh mới được vinh quang này. Trẻ con chết với tội nguyên tổ thì không có ơn thánh, nên không được giải phóng.
8. Không Giải Phóng Các Linh Hồn Ở Luyện Ngục (a.8)
            Việc thụ nạn của Chúa Giêsu Kitô không có quyền lực tạm thời, nhưng có quyền lực vĩnh viễn. Như thế thì rõ ràng không có quyền lực trong lúc Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty hơn ngày nay. Vì đó, những người đương ở luyện ngục với tình trạng như ngày nay thì không được giải phóng. Nhưng nếu có những linh hồn nào lúc ấy có điều kiện để được giải phóng như ngày nay thì lúc ấy cũng được giải phóng.

(B). SUY LUẬN
           
            Nguyên trong kinh Tin Kính thông dụng từ thế kỷ IV, gọi là kinh Tin Kính của các thánh Tông Đồ, có câu La Tinh ‘Descendit ad inferos’, bản tiếng Việt Nam từ xưa đã dịch là ‘Xuống ngục tổ tông’. Nhưng theo ý nghĩa như Thánh Thomas vừa nói ở trên, không phải chỉ có ngục này, còn tiếng Việt Nam vẫn hiểu tổ tông là Ađam và Evà. Muốn sát nghĩa từ La Tinh, thì hiểu ‘ngục ở dưới’ hay là ‘địa ngục’, nhưng không phải là ngục dưới đất. Vì thế, ở đây, mượn từ ‘âm ty’ (hay âm phủ), chỉ chốn tối tăm của người chết.
            Theo các sử liệu, chính Linh Mục Rufinus (Ý, 345-411) là người đầu tiên nói đến kinh Tin Kính phải đọc khi rửa tội ở Aquile (Ý) có câu này. Nhưng không có trong kinh Tin Kính đọc ở Rôma và Đông Âu. Qua thế kỷ V, chỉ có trong kinh Tin Kính đọc ở miền nam nước Pháp.
            Năm 447, ngày 21-7, Giáo Hoàng Lêo viết cho một Giám Mục ở Tây Ban Nha có nói, việc Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty là một tín điều chắc chắn cho người Công Giáo.
            Đầu thế kỷ VI, Giáo Hoàng Symmaque viết cho hoàng đế Anastase xác nhận, ngài vẫn tin Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty.
            Qua thế kỷ VII, năm 633, Công Đồng Tolède IV tuyên bố, Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty để giải thoát các linh hồn công chính khỏi tay ma quỷ.
            Thế kỷ IX, Công Đồng Arles VI nhắc lại lời Công Đồng Tolède IV.
            Đến năm 1141, Công Đồng Sens kết án câu của Abelard ‘Linh hồn Chúa Giêsu Kitô không tự mình xuống âm ty, nhưng chỉ xuống bằng quyền lực của mình’. Năm 1215, Công Đồng Latran IV, và năm 1274, Công Đồng Lyon, xác nhận ‘Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty với linh hồn’.
            Các Giáo Phụ như Thánh Jérôme, Thánh Augustin, Thánh Hilaire và Thánh Basile cũng nhắc đến Thánh Vịnh 33,7-9; 29,4; 48,16; 85,13; 134,8 và sách Huấn Ca 24,45.
            Phúc Âm Thánh Mattheu có câu ‘Cũng như Jonas ở trong bụng một con cá lớn, thì Con Người sẽ ở ba ngày ba đêm trong lòng đất’. Nhiều người đã hiểu ‘trong lòng đất’ là an táng Chúa Giêsu Kitô trong mồ. Nhưng một số Giáo Phụ như Thánh Irênê và Thánh Grégoire de Nysse lại hiểu không thể nói mồ Chúa Giêsu Kitô trong lòng đất, phải nói là Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty.
            Có người nhắc đến hai câu của Thánh PhaolôCòn về việc người ta được nên công chính nhờ đức tin, thì có lời nói:  Đừng tự hỏi, ai sẽ lên trờiNgụ ý là, để đem Chúa Giêsu Kitô xuống (Rm 10,6); và: Người đã lên nghĩa là gì, nếu không phải là Người đã xuống tận các vùng sâu thẳm dưới mặt đất? (Ep 4,9).
            Và mấy lời của Thánh PhêrôNhưng Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, giải thoát Người khỏi những đau khổ của cái chết. Vì lẽ cái chết không tài nào khống chế được Người mãi (Cv 2,24); và: Vì Thiên Chúa chẳng đành bỏ mặc linh hồn con trong cõi âm ty, cũng không để Vị Thánh của Ngài phải hư nát. Thiên Chúa sẽ dạy con biết đường về cõi sống, và cho con được vui sướng tràn trề khi ở trước Thánh Nhan. Thưa anh em, xin được phép mạnh dạn nói với anh em về tổ phụ Đavit rằng: Người đã chết và được mai táng, và mộ của người còn ở giữa chúng ta cho đến ngày nay. Nhưng vì là ngôn sứ và biết rằng Thiên Chúa đã thề với người là sẽ đặt một người trong dòng dõi trên ngai vàng của người, nên người đã thấy trước và loan báo sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô khi nói: Người đã không bị bỏ mặc trong cõi âm ty, và thân xác Người không phải hư nát (Cv 2,27-31); và: Người đã đến giảng cho các vong linh bị giam cầm (1 Pr 3,19), nhưng không rõ về nghĩa Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty.
            Có lẽ ngày xưa có người đã dựa vào câu Phúc Âm Thánh Mattheu ‘và các mồ mở ra, có nhiều thánh mà thi hài nghỉ ngơi(trong đó) đã sống lại. Ra khỏi mồ sau khi sống lại, các ngài vào trong thành thánh và hiện ra với nhiều người’ (Mt 27,52-53); rồi kết luận Chúa Giêsu Kitô đã xuống âm ty để đưa các ngài ra.
            Thánh Ignace có nói Chúa Giêsu Kitô đã đến thăm các ngôn sứ đương chờ đợi Người và Người cho họ sống lại.
            Clément d’Alexandrie quả quyết, Chúa Giêsu Kitô đã xuống âm ty để thăm những người xưa vẫn sống trong linh hồn mà chờ đợi ngày Chúa Giêsu Kitô đến. Mục đích Chúa Giêsu Kitô đến thăm là loan báo cho họ biết Tin Mừng.
            Cũng như Thánh IrênêTertullien phản đối những người tin các linh hồn công chính xưa kia đều được lên thiên đàng ngay sau khi chết. Chính Chúa Giêsu Kitô cũng giữ luật chết của người ta, Người chỉ lên trời sau khi đã xuống âm ty tỏ mình cho các ngôn sứ được trông thấy.
            Theo Origène, các ngôn sứ cũng như Thánh Gioan Tẩy Giả đã xuống âm ty báo tin Chúa Giêsu Kitô sẽ đến đó. Linh hồn của Chúa Giêsu Kitô đã tách rời thi hài đến cùng linh hồn những người đã chết để cải hóa những ai muốn nghe lời Chúa Giêsu Kitô giảng dạy.
            Bellarmin đã biện minh việc Chúa Giêsu Kitô xuống âm ty không phải là một hình bóng để nói Người đã chịu những đau đớn ở đó, nhưng là một việc có thực, vì Thánh Phêrô có nói ‘Người đã đến giảng cho các linh hồn đang bị giam trong ngục’ (1 Pr 3,19); ‘Phúc Âm được giảng cho cả kẻ chết, để tuy họ bị án phạt trong thân xác, nhưng vẫn được sống thiêng liêng với Thiên Chúa’ (1 Pr 4,6).
            Như thế, Thánh Thomas và các nhà thần học Công Giáo xưa nay đã trung thành theo Thánh Kinh, các Giáo Phụ và Giáo Quyền mà giải thích các chi tiết như trên.
            Nhưng anh em Tin Lành phủ nhận tín điều này. Calvin chỉ kể là một hình bóng để nói Chúa Giêsu Kitô âu sầu trong tâm hồn, và chịu đau đớn dường như ở âm ty. Người khác hiểu là một kiểu nói ngày xưa về việc Chúa Giêsu Kitô chịu chết và an táng, Chúa Giêsu Kitô thương yêu những người có tội nên bị phạt, hay là việc Chúa Giêsu Kitô chịu nạn ích lợi cho mọi người, bất cứ ở đâu, dù là những nơi đau khổ.
            Những người theo học phái Duy Tân giải thích mấy thế kỷ đầu của Giáo Hội, ngay các Giáo Phụ cũng đương còn những tin tưởng đơn giản; nhưng ngày nay có nhiều điều tiến hóa, không thể tin như xưa. Không thể theo nghĩa đen mấy từ ‘xuống âm ty’, nhưng phải hiểu nghĩa bóng, là Chúa Giêsu Kitô thương yêu, thăm viếng, an ủi, giảng dạy và cứu chuộc mọi người, khắp mọi nơi, còn sinh sống trên mặt đất này hay là đã qua đời.
            Người Công Giáo ngày nay biết các Giáo Quyền chưa thay đổi mấy từ ’xuống ngục tổ tông’ trong kinh Tin Kính đọc khi rửa tội, và kinh sáng tối của Tín Hữu, mặc dù không có trong kinh Tin Kính đọc hay hát trong Thánh Lễ, thì vẫn nhận là một tín điều. Nhưng về ý nghĩa, có người nghĩ Chúa Giêsu Kitô không cần phải xuống âm ty để giảng dạy và giải phóng những người có đủ điều kiện để biết đạo Chúa Cứu Thế và ra khỏi nơi đau khổ. Vì Chúa Giêsu Kitô xuống với linh hồn, những người đương ở đó cũng chỉ có linh hồn, không có cơ thể, nên không có nói và nghe như trên mặt đất này.
            Chúa Giêsu Kitô toàn năng không cần phải đến tận nơi để giải phóng, một ý của Người, một việc Người chịu nạn chịu chết là đầy đủ cho khắp mọi nơi và cho muôn đời. Còn người được giải phóng trong lúc đó, chỉ biết được là những người, bất cứ vào hạng tuổi tác hay thuộc về dân tộc nào, có đủ điều kiện, là không có tội ác tự ý của mình, hay là đã hết tội lỗi để nhận được ơn Thiên Chúa. Chỉ nói chung về điều kiện, khó nói rõ những hạng người nào.
            Có người lại đặt câu hỏi: Không biết bao nhiêu người đã sinh trước Chúa Giêsu Kitô, đã sống một cuộc đời lương thiện, đều phải ở âm ty mấy ngày mấy tháng mấy năm ..... để chờ Chúa Giêsu Kitô xuống đó giải phóng? Hay là có thể nói, đã nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô mà được lên thiên đàng, như Đức Mẹ đã nhờ công nghiệp Chúa Giêsu Kitô mà được vô nhiễm nguyên tội.
            Nhưng người Công Giáo không dám nói như thế, vì khác với Thánh Kinh, các Giáo Phụ và Giáo Quyền.
            Nếu được phép không tin như Thánh Thomas, âm ty không phải luyện ngục, thì hai câu Phúc Âm của Thánh Mattheu đã nhắc ở trên (Mt 27,52-53) có thể chứng minh về luyện ngục, tình trạng những linh hồn người chết không mắc tội trọng, tuy còn bị đau đớn, nhưng hy vọng sẽ được thiên đàng./-
                                                @Thiên Phong-Trần Minh Đức Bảy
                                                  

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:40