Thứ Sáu, 3 tháng 4, 2015

Chứng Cớ Phục Sinh

Filled under:



Ngôi mộ thực sự trống trơn. Chúa Giêsu phục sinh hay thi thể Ngài bị đánh cắp? Chắc chắn có điều bất thường đã xảy ra, vì những người theo Chúa Giêsu không còn khóc thương Ngài, che giấu Ngài, và bắt đầu can đảm rao giảng với lý do minh nhiên: CHÚA GIÊSU ĐÃ PHỤC SINH.
Các nhân chứng đều nói rằng Chúa Giêsu bất ngờ hiện ra với họ trong thân xác như trước khi Ngài chết, trước tiên Ngài hiện ra với các phụ nữ. Trong thế kỷ đầu, các phụ nữ không có quyền gì, số phận lép vế lắm. Thế mà chính Chúa Giêsu lại ưu tiên hiện ra với họ trước, nghĩa là phụ nữ là những người đầu tiên thấy Chúa Giêsu phục sinh. Thật là độc đáo vô cùng. Phụ nữ cũng là những người đầu tiên phát hiện ngôi mộ trống, được nói chuyện với Ngài và đi làm chứng về Ngài.
Sau đó, các tông đồ mới được thấy Chúa Giêsu, và thấy hơn 10 lần. Ngài cho họ xem tay chân và cạnh sườn và bảo sờ thử xem sao. Ngài còn ăn uống với họ, và có lần Ngài hiện ra với hơn 500 người đi theo Ngài.
Học giả John Warwick Montgomery cho biết: “Năm 56 sau công nguyên, tông đồ Phaolô cho biết rằng có hơn 500 người đã được thấy Chúa Giêsu phục sinh và nhiều người trong số đó vẫn còn sống (1 Cr 15:6-8). Điều đó không có nghĩa là các Kitô hữu thời sơ khai có thể dựng chuyện như vậy rồi rao truyền cho những người nhẹ dạ cả tin bằng cách làm ra thân thể Chúa Giêsu” (1).
Các học giả Kinh Thánh Geisler và Turek nói: “Nếu sự phục sinh không xảy ra, tại sao tông đồ Phaolô lại dám đưa ra con số nhiều các chứng nhân như vậy? Nếu không đúng, tông đồ Phaolô sẽ mất uy tín với các tín hữu Côrintô vì ông nói dối trắng trợn” (2).
Tông đồ Phêrô nói với đám đông ở Xê-da-rê về lý do ông và các tông đồ khác đã tin Chúa Giêsu sống lại: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Người đã làm trong cả vùng dân Do-thái và tại chính Giêrusalem. Họ đã treo Người lên cây gỗ mà giết đi. Ngày thứ ba, Thiên Chúa đã làm cho Người trỗi dậy, và cho Người xuất hiện tỏ tường, không phải trước mặt toàn dân, nhưng trước mặt những chứng nhân Thiên Chúa đã tuyển chọn từ trước, là chúng tôi, những kẻ đã được cùng ăn cùng uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại” (Cv 10:39-41).
Học giả Kinh Thánh Michael Green (người Anh) nói: “Những lần Chúa Giêsu hiện ra chính xác như bất cứ thứ gì cổ xưa… Không thể nói rằng những điều đó đã không xảy ra” (3).
Sự phục sinh của Đức Giêsu Kitô là một sự kiện lịch sử đã thực sự xảy ra, không là huyền thoại như nhiều người vô thần đã nói. Các cuộc nghiên cứu khảo cổ vẫn tiếp tục phát hiện sự chính xác mang tính lịch sử của Kinh Thánh. Ngoài các sách Phúc Âm và sách Công Vụ, còn có những chứng cớ về sự hiện hữu của Chúa Giêsu phục sinh trong các tác phẩm của Flavius Josephus, Cornelius Tacitus, Lucian Samosata, và Tòa án Tối cao Do-thái (Jewish Sanhedrin).
Đây là 7 chứng cớ về sự phục sinh cho thấy Đức Giêsu Kitô đã thực sự trỗi dậy từ cõi chết:
1. Ngôi mộ trống
Ngôi mộ trống có thể là bằng chứng hùng hồn nhất về sự phục sinh của Chúa Giêsu. Có 2 lý do chính được những người không tin đưa ra: Ai đó đã lấy trộm xác Chúa Giêsu, hoặc các phụ nữ và các tông đồ đến không đúng mộ. Người Do Thái và người Rôma không có động cơ để cướp xác, còn các tông đồ quá nhát đảm và phải trốn quân lính Rôma. Các phụ nữ thấy mộ trống và không còn thấy xác Chúa Giêsu, họ biết chắc đó là mộ an táng Chúa Giêsu. Giả sử họ đến không đúng mộ, Tòa án Tối cao Do Thái có thể lấy xác ở đúng mộ để ngăn cản chuyện phục sinh. Vải liệm Chúa Giêsu được xếp gọn gàng trong mộ, kẻ trộm nào cũng vội vàng, không ai lại cẩn thận như vậy. Chính các thiên thần nói rằng Chúa Giêsu đã sống lại.
2. Các nữ chứng nhân đạo đức
Các nữ chứng nhân là bằng chứng rằng Phúc Âm là tài liệu lịch sử chính xác. Nếu được bịa đặt, không tác giả cổ nào lại dùng phụ nữ làm nhân chứng cho sự phục sinh của Đức Kitô. Phụ nữ là giai cấp công dân thứ yếu trong thời đó, chứng cớ của họ không được xem xét ở tòa án. Nhưng Kinh Thánh nói rằng Đức Kitô phục sinh hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala và mấy phụ nữ đạo đức khác. Ngay cả các tông đồ cũng không tin bà Maria khi bà nói về ngôi mộ trống. Chúa Giêsu luôn tôn trọng các phụ nữ này, Ngài đề cao họ bằng cách cho họ trở thành nhân chứng đầu tiên về sự phục sinh của Ngài. Các Thánh sử đã kể lại hành động lúng túng này, vì đó là cách nó xảy ra.
3. Các tông đồ can đảm
Sau khi Chúa Giêsu bị đóng đinh, các tông đồ đã trốn biệt trong các phòng khóa chặt cửa, sợ sẽ đến lượt mình bị lôi đi xử tử. Nhưng có sự thay đổi khác thường: Họ đang là những người nhát đảm trở thành những người rao giảng can trường. Bất kỳ ai biết bản chất con người thì đều hiểu rằng con người không thể thay đổi mau chóng như vậy nếu không có sự tác động lớn. Sự ảnh hưởng đó là được thấy Thầy sống lại từ cõi chết. Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn phòng còn khóa kín cửa, trên bờ biển Galilê, và trên núi Ô-liu. Sau khi thấy Thầy phục sinh, tông đồ Phêrô và các tông đồ khác đã ra khỏi phòng và đi rao giảng về Đức Kitô phục sinh, bất chấp mọi nguy hiểm có thể xảy ra với mình. Họ không còn trốn tránh vì họ đã biết sự thật. Cuối cùng, họ hiểu rằng Chúa Giêsu là Thiên Chúa nhập thể làm người và cứu mọi người thoát khỏi tội lỗi.
4. Biến đổi Giacôbê và những người khác
Cuộc sống biến đổi là một bằng chứng khác về Chúa Giêsu phục sinh. Tông đồ Giacôbê, anh em họ với Chúa Giêsu, đã từng nghi ngờ không biết Chúa Giêsu có là Đấng Mêsia hay không. Nhưng sau đó, ông đã trở thành người lãnh đạo can đảm của giáo đoàn Giêrusalem, thậm chí còn bị ném đá chết vì đức tin. Tại sao? Kinh Thánh nói rằng vì Đức Kitô phục sinh đã hiện ra với ông. Thật là cú sốc cho người anh em của ông còn sống, sau khi nghe tin này. Tông đồ Giacôbê và các tông đồ khác cũng đều trở thành các nhà truyền giáo hăng say vì họ đã được thấy và chạm vào Đức Kitô phục sinh. Với các chứng nhân như vậy, Giáo hội sơ khai đã phát triển mau chóng, lan rộng từ Giêrusalem tới Tây phương, tới Rôma và xa hơn nữa. Cả hai ngàn năm qua, những người gặp được Đức Giêsu phục sinh đều thay đổi cách sống.
5. Đám đông
Đám đông hơn 500 người đã cùng nhau tận mắt thấy Chúa Giêsu phục sinh (1 Cr 15:6-8). Thánh Phaolô nói rằng đa số họ còn sống khi ông viết lá thư đó, khoảng năm 55 sau công nguyên. Chắc chắn họ nói với người khác về “sự lạ” này. Ngày nay, các tâm lý gia nói rằng không thể có số đông người như vậy mà chỉ là ảo giác cộng đồng. Các nhóm nhỏ cũng thấy Chúa Giêsu phục sinh, chẳng hạn như các tông đồ, ông Clê-ô-pa và người bạn đồng hành. Họ cùng thấy một sự việc, còn trường hợp các tông đồ, họ còn sờ vào Chúa Giêsu và xem rõ các vết thương của Chúa Giêsu, rồi tận mắt thấy Ngài ăn uống nữa. Không thể nào là ảo giác, vì sau khi Chúa Giêsu lên trời, họ mới không còn gặp lại Ngài.
6. Phaolô trở lại
Cuộc trở lại của Thánh Phaolô là bằng chứng mạnh mẽ về việc biến đổi cuộc đời mau chóng. Là Saolê cùa thành Tác-sô, ông là người bắt đạo dữ dội. Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với ông trên đường Đa-mát, ông trở thành nhà truyền giáo của Kitô giáo. Ông chịu 5 lần đánh bằng roi, 3 lần đánh đập, 3 lần đắm tàu, 1 lần bị nén đá, chịu nghèo nàn và bị chế nhạo. Cuối cùng, hoàng đế Nê-rô của Rôma đã chặt đầu Phaolô vì tội không chịu bỏ niềm tin vào Đức Kitô phục sinh. Điều gì khiến Phaolô chịu cực hình như vậy? Các Kitô hữu tin rằng cuộc trở lại của Phaolô là nhờ ông đã gặp được Đức Kitô phục sinh.
7. Người ta dám chết vì Chúa Giêsu
Vô số người đã dám thí mạng vì Chúa Giêsu, chắc chắn sự phục sinh của Chúa Giêsu là một sự kiện có thật trong lịch sử. Truyền thống nói rằng có 10 tông đồ trong Nhóm Mười Hai đã tử đạo vì Đức Kitô phục sinh. Hàng trăm, hàng ngàn Kitô hữu thời sơ khai đã chịu chết tại đấu trường Rôma và tại các nhà lao tù vì họ vững tin vào Đức Kitô phục sinh. Ngày nay, người ta cũng vẫn bị bách hại vì tin vào Đức Kitô phục sinh. Rất nhiều vị tử đạo đã chết ở nhiều nơi suốt hai ngàn năm qua, vì họ vững tin rằng Chúa Giêsu sẽ ban cho họ sự sống đời đời.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Y-Jesus.com và Christianity.about.com)
______________________________
(1) John W. Montgomery, Lịch sử và Kitô giáo (Downers Grove, ILL: InterVarsity Press, 1971), 78.
(2) Norman L. Geisler và Frank Turek, Tôi Không Đủ Tin Để Là Người Vô Thần (Wheaton, IL: Crossway, 2004), 243.

(3) Michael Green, Thập Giá Trống Trơn Của Chúa Giêsu (Downers Grove, IL: InterVarsity, 1984), 97, trích dẫn trong John Ankerberg và John Weldon, Biết Sự Thật Về Sự Phục Sinh (Eugene, OR: Harvest House), 22.

Posted By Đỗ Lộc Sơn13:51

Hôn nhân: Địa ngục hay Thiên đàng

Filled under:

Đời sống vợ chồng không tránh khỏi sóng gió, nhưng nếu chúng ta biết lấy tình yêu chân thành mà đối xử với nhau thì mọi sự sẽ tốt đẹp. Vì “Tình yêu chiến thắng tất cả!”.
Một danh nhân đã nói: “Hôn nhân là con đường dắt ta vào địa ngục hay đưa ta vào thiên đàng” (Balzac). Những ai đã bước vào đời sống hôn nhân gia đình đều có chung một kinh nghiệm này là hôn nhân đối với người này là hỏa ngục nhưng với người khác cũng có thể lại là thiên đàng. Chính vì vậy mà có người đã khẳng định: “Hôn nhân giống như cái lồng chim, con ở trong thì muốn bay ra, còn con ở ngoài thì muốn bay vào” (Montaigne). Người muốn thoát ra khỏi cuộc hôn nhân vì đối với họ đó quả thực là một bi kịch. Còn người muốn bước vào cuộc hôn nhân thì nhìn đó như là một thực tại đem lại hạnh phúc đích thực cho đời mình…
Thực tế cho thấy có hai loại hôn nhân mà người ta có thể trải qua. Đó là hôn nhân thiên đàng và hôn nhân địa ngục.
1. Hôn nhân thiên đàng
Hôn nhân thiên đàng không phải là hôn nhân của những mộng mơ, viễn tưởng mà trái lại đó là một trường đào tạo, một cuộc chiến đấu cam go của những anh hùng. Như có người đã nói: “Hôn nhân không phải là luống hồng mà là bãi chiến trường” (Danh ngôn).
Để có được một cuộc hôn nhân thiên đàng chúng ta phải là những anh hùng dũng cảm thực hiện một số đòi hỏi sau:
Hy sinh vì người yêu. Tình yêu trong hôn nhân đòi hỏi đôi bạn phải hy sinh hết mình vì bạn đời của mình và vì hạnh phúc gia đình. Đó là cách chứng minh tình yêu cụ thể nhất. Thánh nữ Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã nói: “Yêu là hy sinh, chưa hy sinh thì chưa gọi là yêu”. Hy sinh cũng là điều kiện để bảo tồn và gia tăng sự hiệp thông, hiệp nhất trong gia đình. Như khẳng định sau đây: “Chỉ có một tinh thần hi sinh cao cả mới giúp gìn giữ được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau và hòa giải với nhau. Không gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy: chính từ đó mà phát xuất muôn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (x. ĐGH Gioan Phaolô II, Tông huấn FC số 21, trang 85).
Thực hành 5 chữ “Hòa”. Đó là hòa thuận, hòa hợp, hòa hoãn, hòa bình và hòa đồng. Một cuộc hôn nhân hạnh phúc không xây dựng trên nền tảng tiền bạc hay điều kiện vật chất này nọ mà là trên mối tương quan êm ấm giữa hai vợ chồng. Mối tương quan ấy có được là do đôi bạn luôn biết tùng phục, yêu thương và kính trọng nhau, căn cứ lời khuyên nhủ của thánh Phaolô, như sau:
“Vì lòng kính sợ Đức Ki-tô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Ki-tô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người. Và như Hội thánh tùng phục Đức Ki-tô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Eph 5,21-33). “Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương chứ đừng cay nghiệt với vợ…” (Cl 3,18-19).
Quả vậy, tình yêu chân chính, lòng quảng đại, sự bao dung, tinh thần trách nhiệm, sự chung thủy...luôn là những điều kiện cần thiết bảo đảm cho một cuộc hôn nhân lâu bền, hạnh phúc. Người Kitô hữu trưởng thành luôn biết bảo vệ và trân trọng hôn nhân của mình như một ơn huệ và ơn gọi đến từ Thiên Chúa. Họ vui mừng hãnh diện vì được cộng tác và chia sẻ công việc của Thiên Chúa. Họ được nên thánh, được góp phần xây dựng và phát triển những “Hội thánh tại gia” là những gia đình đạo đức, hạnh phúc đích thực, họ loan báo Tin Mừng cho thế giới bằng đời sống chứng tá sáng chói và nổi bật.
2. Hôn nhân địa ngục
Đối nghịch với hôn nhân thiên đàng là hôn nhân địa ngục. Đó là một thứ hôn nhân đau đớn, thảm họa và ngục tù. Những ai rơi vào tình cảnh một cuộc hôn nhân thế đều có chung một cảm nghiệm là “Có chồng như gông đeo cổ”, hoặc “Lấy vợ như mang nợ vào thân”.
Tình trạng hôn nhân bi đát ngày càng phổ biến và các cuộc ly hôn đang có chiều hướng gia tăng. Theo aFamily thì “Tỷ lệ ly hôn ngày một tăng. Cuộc điều tra do Bộ VH-TT&DL, phối hợp với Tổng cục Thống kê, với sự hỗ trợ của UNICEF cho thấy, số vụ ly hôn đang tăng nhanh. Nếu năm 2000 chỉ có 51.361 vụ ly hôn thì năm 2005 đã tăng lên 65.929 vụ. Người vợ đứng đơn ly hôn hiện gấp 2 lần so với người chồng đứng đơn...” (x. http://giaophanthaibinh.org/a6590/Giat-minh-ve-con-so-thong-ke-cua-Gia-dinh-Viet.aspx).
Bên cạnh những cuộc đổ vỡ “hữu hình” là các vụ ly hôn, còn có những “thảm kịch vô hình” trong các gia đình khi mà vợ chồng sống với nhau như người dưng nước lã, hay tệ hơn như kẻ thù. Người ta đã từng than thở: “Hôn nhân là mồ chôn tình ái” (Chamfort). Một khi hôn nhân không còn đem lại cho ta hạnh phúc nữa thì đó chẳng khác gì ngục tù giam hãm trái tim con người. Người ta mơ mộng khi yêu nhau và đã vỡ mộng khi sống chung với nhau.
Vậy đâu là những lí do gây nên tình trạng trên? Có mấy nguyên nhân chính sau đây:
Hôn nhân vô cảm. Khi mới lấy nhau thì tình yêu cháy bỏng, nhưng sau một thời gian kết hôn, người ta trở nên thờ ơ, lạnh nhạt và nhàm chán nhau. Người này kêu ca, oán trách người kia. Sự mâu thuẫn, bất đồng ngày một gia tăng. Đôi bạn sống hoàn toàn vô cảm với nhau, ngay cả khi một trong hai đang cần sự đồng cảm để vượt qua những khó khăn bản thân. Một khi sự vô cảm gia tăng thì người ta trở nên bi quan, tiêu cực, dễ dàng buông xuôi, bỏ cuộc…
Sự vô cảm trong hôn nhân là dấu hiệu đầu tiên của sự mất hiệp thông trong gia đình. Và từ đây kéo theo hệ lụy là vợ chồng chia rẽ, xung khắc, bất hòa, ly thân, ly dị.
Hôn nhân vô trách nhiệm. Ai cũng biết trong một cuộc hôn nhân bình thường thì quyền lợicủa hai vợ chồng phải chịu thiệt đi mỗi người một nửa, trong khi nghĩa vụ của họ cần phải nhân đôi lên. Quả thực, khi lập gia đình, đôi bạn nam nữ không còn sống cho mình và chết cho mình nữa, trái lại họ phải sẵn sàng chu toàn nhiều bổn phận nặng nề trong gia đình, phải hy sinh vì người khác, cho người khác. Vậy mà trong nhiều trường hợp, họ sống vô trách nhiệm. Người chồng quên rằng mình là gia trưởng. Người vợ quên rằng mình là nội tướng. Họ dành thời gian, công sức, tiền bạc cho những mục đích riêng tư cá nhân hơn là cho gia đình.
Một khi hai người không còn quan tâm đến gia đình, đến bổn phận vợ chồng nữa thì hậu quả sẽ là nghèo túng, thiếu thốn, mâu thuẫn, bất đồng và ly tán…
Hôn nhân vô đạo đức. Hôn nhân vô đạo đức là một cuộc hôn nhân trong đó hai người cư xử với nhau một cách tệ bạc, không còn “phu xướng phụ tùy” hay “tương kính như tân” nữa. Chồng đánh vợ. Vợ chửi chồng. Bạo lực xảy ra hằng ngày trong gia đình. Căn bệnh vô đạo đức trong hôn nhân ngày nay khá phổ biến. Vấn đề bạo hành, bạo lực trong gia đình đang ở mức báo động. Theo thống kê gần đây nhất thì “Cứ hai phụ nữ kết hôn thì có một người phải chịu ít nhất một hình thức bạo lực trong đời. Thống kê tình trạng bạo hành gia đình vài năm qua cho thấy 71,44% nạn nhân là phụ nữ và trẻ em gái”. Một gia đình mà trong đó các thành viên thường xuyên bị hành hạ, tra tấn, đánh đập…thì làm sao có bầu khí êm ấm, hòa bình, hạnh phúc được.
Thiết nghĩ, để thoát ra khỏi một cuộc hôn nhân u ám, đau đớn và địa ngục, chúng ta phải thức tỉnh và cảnh giác. Thức tỉnh để tái khám phá bản chất, ý nghĩa, mục đích đích thực của hôn nhân là gì. Cảnh giác để khỏi bị lôi kéo vào quỹ đạo của nếp sống vô cảm, vô trách nhiệm và vô đạo đức. Đời sống vợ chồng không tránh khỏi sóng gió, nhưng nếu chúng ta biết lấy tình yêu chân thành mà đối xử với nhau thì mọi sự sẽ tốt đẹp. Vì “Tình yêu chiến thắng tất cả!”./.
Nguồn: gpcantho.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn13:24

Thánh Lễ Chiều Thứ Năm Tuần Thánh

Filled under:

5 giờ 30 chiều Thứ Năm Tuần Thánh ngày 2/4/2015, tại Nhà Nguyện Giáo xứ Sơn Lộc đã diễn ra Thánh Lễ kỷ niệm Đức Giêsu Rửa chân cho các Tông đồ và thành lập Bí Tích Thánh Thể.
Thánh lễ đồng tế hôm nay có Cha xứ Simon, cùng hai cha Giuse (HTSVN).

Trong  hình: Các cha đồng tế cùng 12 tông đồ rửa chân.


             Thánh Giá, Nến cao dẫn đầu đoàn rước.
          Mở đầu thánh lễ, cha chủ tế nói ý nghĩa thánh lễ hôm nay.
             Sau phần phụng vụ Lời Chúa, Cha chủ sự rửa chân cho các tông đồ.

                               Cộng đoán tham dự thánh lễ.

                                Dâng Của Lễ.
                                Truyền Phép Thánh Thể.
                                Kinh Lạy Cha.
                                Ca đoàn thiếu nhi.
                                Tôn Thờ Thánh Thể.



                                Rước Thánh Thể vè Nhà Tạm.



Công đoàn phân chia giờ Chầu cho các khu, các giới và các hội đoàn. Giờ Chầu chung và kết thúc vào lúc 12 giờ đêm

Posted By Đỗ Lộc Sơn10:57

Hãy Tập Tha Thứ Dù Cõi Lòng Đau Đớn

Filled under:

Khi Chúa Giêsu đang là trung tâm điểm của cuộc đời chúng ta thì Chúa sẽ ban cho chúng ta ơn hoà giải với chính mình và với những người khác.
Chúa Thánh Thần không để chúng ta có những mối liên hệ bị gẫy đổ. Ngài luôn muốn chúng ta hãy tha thứ cho mọi người trong khả năng của ta. Chúa Thánh Thần sẽ giúp đỡ ta nếu ta cho phép Ngài can thiệp trong cuộc sống ta.
Trong Tuần Thánh này, hãy quyết định hòa giả với những người trong gia đình và những người thân quen trong cuộc sống mình. Hãy tha thứ cho họ và hãy tha thứ cho chính mình vế những lời nói, hành động hay cử chỉ xúc phạm sâu đậm đến cá nhân chúng ta.
Cuộc đời con người quá ngắn ngủi và rất quý giá. Vì vậy, chúng ta không nên lãng phí thời gian và để cho mình phải sa vào lưới của Satan là sự hận thù, ghen ghét và không tha thứ. Hãy tự cởi trói của xiềng xích đang làm cho tâm hồn ta nặng trĩu bởi sự không tha thứ và thể xác ta bịnh hoạn vì ảnh hưởng của sự giận hờn, không tha thứ.
Hãy quyết định tha thứ ngay hôm nay. Bạn sẽ không tiếc nuối. Tha thứ bắt đầu với một quyết định rồi tình cảm sẽ đi theo sau.
Lời cầu nguyện sẽ bao gồm những điều quan trọng trong cuộc sống. Hãy hồi tưởng lại những sự giận dữ bị chôn kín nhiều năm, những cay đắng, tủi nhục và phẫn uất. Nhớ để loại trừ, vứt bỏ chúng ra khỏi tâm trí một lần và mãi mãi. Hãy ghi nhớ sự không tha thứ là thuốc độc gậm nhấm và giết chết tinh thần và thể xác chúng ta.
Chúa Thánh Thần sẽ hướng dẫn bạn đến chiến thắng, vì thế:
1. Hãy ca ngợi Chúa,
2. Thực hành việc chiến đấu thiêng liêng bằng cách đọc Thư Ephêso, đặc biệt là chương 5, chương 6.
3. Suy niệm Lời Chúa trong Thánh Kinh.
4. Đầu phục Chúa hoàn toàn để Chúa Thánh Thần hoạt động trong linh hồn ta.
5. Sám hối.
6. Tha thứ vì tha thứ là tự giải thoát.
7. Thinh lặng để lắng nghe tiếng nói của Thiên Chúa.
8. Cầu bầu cho những người khác.
9. Thỉnh nguyện van nài Chúa giúp đỡ.
10. Luôn luôn cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh.
11. Luôn yêu thương dù đang đau đớn.
12. Nếu vẫn không thể tha thứ thì khẩn nài Chúa Thánh Thần giúp đỡ.
Kinh nghiệm cho thấy trong cuộc sống ta thấy có những kẻ tồi bại, bần tiện, chuyên cố ý làm hại, nói xấu, bêu xấu bằng cách nói giỡn để hạ nhục ta. Ta cứ tha thứ cho họ nhưng điều quan trọng là sau đó, ta không cần phải liên hệ, nói chuyện và làm bạn với họ nữa. Nếu ta còn tiếp tục làm bạn với họ thì họ sẽ tiếp tục làm khổ ta và làm cho ta bịnh hoạn. Tha thứ và dứt liên lạc.
Hãy cầu nguyện thật sốt sắng trong Tuần Thánh và mùa Phục Sinh. Đây là mùa quan trọng nhất đối với Thiên Chúa giáo và người Kitô hữu.
Kim Hà
2/4/2015

Posted By Đỗ Lộc Sơn04:56

Thứ Năm, 2 tháng 4, 2015

Thánh Lễ Truyền Dầu Tại Nhà Thờ Chánh Tòa Phú Cường

Filled under:

Vào lúc 8 giờ sáng nay, ngày 02.4.2015, Thứ Năm Tuần Thánh. Đức Cha Giuse Nguyễn Tấn Tước – Giám mục Giáo phận Phú Cường, đã cử hành Thánh lễ làm Phép Dầu tại Nhà Thờ Chánh Tòa Phú Cường.
Đồng tế trong thánh lễ có Đức Cha Phêrô Trần Đình Tứ - Nguyên Giám mục Giáo phận. Cha Tổng Đại diện Micael Lê Văn Khâm, Quý cha quản hạt, Quý cha Bề trên các dòng, Quý cha trong giáo phận. Cùng  tham dự thánh lễ còn có Quý tu sĩ và đông đảo bà con giáo dân các giáo xứ.
Mở đầu Thánh lễ, Đức cha Giuse nói lên ý nghĩa Thánh lễ làm Phép Dầu. Gọi là lễ Truyền Dầu vì trong Thánh lễ Đức Giám mục sẽ Hiến thánh Dầu Thánh, làm phép Dầu Bệnh nhân và Dầu Dự tòng.
Lễ Dầu thể hiện sự hiệp nhất của linh mục đoàn với Giám mục Giáo phận qua việc đồng tế và lập lại lời hứa ngày lãnh nhận chức vụ linh mục tư tế thừa tác của Chúa Kitô; Có thể nói đây là ngày lễ dành riêng cho các linh mục và cũng là ngày lễ thể hiện sự hiệp thông của mọi thành phần Dân Chúa trong Hội Thánh của Chúa Kitô.
Trong bài giảng, Đức Cha Giuse một lần nữa nhấn mạnh đến ý nghĩa của việc làm phép Dầu thánh và ngài ước mong mỗi người Kitô hữu tùy theo chức phận của mình luôn làm tỏa ngát hương thơm của Dầu thánh ngay trong gia đình mình, trong giáo xứ, trong hội dòng, trong cộng đoàn tu sĩ, trong cả giáo phận thân yêu của mình. Nhờ đó, như lời Đức Giáo Hoàng Bênêđictô 16 đã suy niệm và Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhắc lại: "Hội Thánh phát triển không phải bằng việc chiêu dụ, nhưng bằng sức thu hút". Một khi đã được xức Dầu thánh, chúng ta phải sống làm sao để giáo xứ và cộng đoàn của mình chan hòa niềm vui trong bình an và hiệp nhất, khiến những người chung quanh mình phải thốt lên rằng: "Kìa xem, những người Kitô hữu: họ sống đạo tình thương; họ hiệp nhất với nhau; họ xây dựng gia đình êm ấm thuận hòa; họ giáo dục con cháu sống lễ độ, có tinh thần tương ái tương thân, lá lành đùm lá rách; họ sống bác ái với tha nhân; họ chăm sóc người nghèo khổ; họ phục vụ kẻ cô đơn; họ chia sẻ với người túng thiếu; họ sống nhân hậu, bao dung, vui tươi, nhẫn nại, trung tín, hiền hòa, dễ dàng tha thứ cho mọi người ...".
Sau bài giảng là nghi thức làm phép Dầu. Đức Giám Mục thứ tự đặt tay lên các bình dầu do các thầy giới thiệu và đọc lời nguyện làm phép Dầu, cộng đoàn đứng để hiệp thông với lời nguyện ấy.
Tiếp theo, để tỏ hiện tình hiệp nhất, huynh đệ giữa các giám mục, linh mục, Đức Cha Giuse đã hôn trao bình an Đức Cha Phêrô cùng toàn thể linh mục hiện diện.
Thánh lễ tiếp tục với phần phụng vụ Thánh Thể. Cả cộng đoàn cùng hiệp ý với Chủ tế và đón nhận Mình Thánh Chúa cách sốt mến.
Thánh lễ kết thúc lúc 9 giờ 30 trong bầu khí thánh thiêng. Xin Chúa chúc lành cho chúng con ra về bình an.




























Posted By Đỗ Lộc Sơn15:28

Bài Giảng Lễ Truyền Dầu Thứ Ba Tuần Thánh 31.3.2015 – Hoàng Xá

Filled under:

Kính thưa cộng đoàn, thưa anh em Linh mục quý mến,
Thứ Năm Tuần Thánh là ngày của Linh mục. Ban sáng có thánh lễ truyền Dầu, các LM giáo phận qui tụ xung quanh vị GM giáo phận để biểu dương sự hiệp nhất và tình Huynh đệ trong chức linh mục. Ban chiều có lễ Tiệc Ly, kỷ niệm Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể, và chính trong khung của bí tích này, được cử hành lần đầu tiên mà Ngài cũng lập bí Truyền Chức Thánh, khai sinh chức linh mục. Linh mục là người được Chúa và Giáo Hội, qua vị Giám mục giáo phận tuyển chọn vào hàng ngũ tư tế đời đời, tông truyền, tức từ thời các thánh tông đồ đến ngày nay.
Lễ Dầu năm nay, đức cha chính dạy tôi chia sẻ với cộng đoàn và cách riêng với các linh mục về đức vâng phục. Tôi xin nói hai điểm : 1/ Đức vâng phục là điều kiện để làm linh mục; 2/ là nhân đức để sống sứ vụ linh mục.
1/ Đức vâng phục là điều kiện để làm linh mục :
Trong 3 nghi thức phong chức PT, LM, GM, mỗi nghi thức có những câu hỏi khác nhau hợp với mỗi cấp, nhưng đặc biệt trong cả ba cuộc phong chức, vị tiến chức đều được (hay bị) tra vấn về đức vâng phục : - “Con có hứa tôn kính và vâng phục cha, cùng những đấng kế vị cha không ?” Câu trả lời là : “Con xin hứa ”. (Tưởng tượng có vị nào dám nói rằng : “Con không hứa”, chắc là nghi thức sẽ dừng lại ngay lập tức. Chấm hết ! Giải tán !)  Vâng phục là một trong những điều kiện để được phong chức, thiếu nó, việc phong chức không thành.  Không bao giờ GH chuẩn miễn đức vâng phục, trong khi các điều khác có thể miễn chuẩn, (vd với phó tế vĩnh viễn – tức có gia đình-, sẽ không buộc giữ độc thân, đương sự được miễn chuẩn luật này).
Đối với các dòng thì nó là lời khấn, còn với phó tế, linh mục, giám mục giáo phận thì nó là lời hứa. Chúng ta thường dễ nghĩ rằng khấn thìtrọng hơn hứa. Thật ra, khấn hứa đều đòi buộc như nhau, bởi đối tượng nhắm đến là chính Chúa : khấn với Chúa, hứa với Chúa.
Nền tảng của đức vâng phục nằm ở nơi Chúa Giêsu, Đấng “đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,8). Ngài đã “phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8). Ta có thể nói rằng sự vâng phục Chúa Cha chính là tâm điểm chức Linh Mục của Chúa Kitô (Chỉ nam Linh mục số 56). Vậy, được thông phần vào chức Linh mục của Chúa Giêsu, nên một với Chúa Giêsu, linh mục cũng phải rập theo gương vâng phục của Ngài : vâng phục triệt để, tuyệt đối, đến cùng, dù phải chết hay phải trải qua nhiều đau khổ như Chúa Giêsu.
2. Đức vâng phục là nhân đức để sống sứ vụ linh mục :
Câu hỏi ngắn, và câu đáp cũng rất ngắn :“Con xin hứa ”, nhưng hệ quả của nótrải dài suốt cuộc đời, suốt sứ vụ linh mục. Giáo luật khoản 273 qui định như sau : “Linh mục có nghĩa vụ đặc biệt phải tôn trọng và vâng phục đối với ĐGH và Đấng bản Quyền của mình”.  Vì thuộc về một linh mục đoàn nhất định, linh mục phục vụ một GH địa phương mà nguyên lý và nền tảng của sự hiệp nhất GH đó ở nơi Giám mục, người thi hành trên GH này mọi quyền hành thông thường, riêng biệt và trực tiếp, cần thiết cho nhiệm vụ mục tử của ngài.
Như mọi tổ chức, GH được xây dựng và đứng vững nhờ sự tùng phục phẩm trật.  Giáo dân vâng phục linh mục, linh mục vâng phục giám mục, giám mục vâng phục giáo hoàng …Một cộng đoàn, dù nhỏ bé, nếu không vâng phục nhau thì không thể vững mạnh và tồn tại được. Linh mục – cộng sự viên thân cận của giám mục- mà không vâng phục giám mục, thì thật tai hại, nó gây gương xấu và hoang mang cho các tín hữu, còn đối với linh mục đó, chắc chắn không thể nào chu toàn sứ vụ linh mục cách tốt đẹp được.
Trên tất cả, đó làsự vâng phục Chúa. Mọi người, dù ở cấp bậc nào, phẩm trật nào, đều phải vâng phục Chúa, Đấng Tối Cao. Trong câu trả lời của Chúa Giêsu với Đức Mẹ khi gặp lại nhau ở đền thờ Giêrusalem, ta thấy Chúa Giêsu khéo léo hướng cha mẹ Ngài đến sự vâng phục Thiên Chúa : “Cha mẹ không biết là con phải lo công việc của Cha con sao ?”, và sau đó, “Ngài theo cha mẹ về Nadarét và hằng vâng phục các ngài ” (Lc 2,51).
Linh mục sẽ chu toàn sứvụ của mình trong sự vâng phục Giám Mục bản quyền, trong ý thức rằng mình đang vâng phục Chúa.  Dễ đó mà cũng khó đó. Dễ khi ý của giám mục hợp với ý mình.  Khó khi ý của ngài trái với ý mình. Làm sao đây trong trường hợp khó khăn đó ? Thưa, hãy lập lại lời nguyện của Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha ”(Lc 22,42).
Tu đức trước công đồng Vatican II dạy rằng phải vâng phục vô điều kiện. Có câu truyện kể rằng bề trên bảo trồng sắn ngược, cứ vâng theo, cây sắn cũng mọc như thường ! Bây giờ thì khác hơn, có đối thoại song phương, bề dưới có quyền trình bày những lý do về phía mình, nhưng bề trên vẫn có quyền, sau khi nghiệm xét các lý do, để yêu cầu bề dưới vâng theo. Và lúc ấy chính là đức vâng phục trong sự hiểu biết, sẵn sàng, phục tùng, không còn là ý riêng, mà cả hai phía đều là theo ý Chúa.
Bề trên phải cân nhắc mọi lẽ theo ý Chúa, bề dưới cũng vậy. Cần thêm hai khía cạnh này: 1/ Càng vâng phục mau mắn, vui tươi, càng chứng tỏ là một tâm hồn thánh thiện(ĐHV.392) ; 2/ Vâng phục Chúa – là điều trên hết - đem lại bình an cho tâm hồn, theo lời Dante : “Thánh ý Chúa là sự bình an của ta ”.
Thời đại chúng ta đang sống không ủng hộ đức vâng phục, khi nó đề cao chủ nghĩa lý trí, tự do, cá nhân. Là kitô hữu, hơn nữa, là linh mục của Chúa, mỗi người trong cộng đoàn hiện diện đây, hãy noi theo gương khiêm nhường và vâng phục của Chúa Giêsu, sẵn sàng và vui tươi chấp nhận thành ý Chúa qua ý Bề trên hợp pháp trong Giáo Hội.  Đối với giáo dân, đó là cha sở của anh chị em, đối với linh mục đoàn, đó là đức giám mục giáo phận. Đối với tất cả, đó là chính Chúa. “Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau ”(Ep 5,21).
Anh em linh mục thân mến, trong ngày chịu chức, anh em đã hứa vâng phục với đức giám mục.  Ước gì lời hứa ấy thể hiện trong suốt cuộc đời và sứ vụ linh mục của anh em cách ý thức, mau mắn, ngọt ngào chứ không cay đắng. Chúng ta hãy học gương của Đức Mẹ, Mẹ hàng giáo sĩ, qua ba chữ vàng : “FIAT” (Xin Vâng Ý Chúa) – MAGNIFICAT(Chúc tụng Ý Chúa) – STABAT (Đứng vững trước Ý Chúa).
+Anphong Nguyễn Hữu Long
Giám mục Phụ tá Hưng Hóa
http://www.memaria.org/Images/upload/gallery/Dc%20Long.jpg

Posted By Đỗ Lộc Sơn04:31