Chủ Nhật, 19 tháng 7, 2020

Phút cảm nhật Tin Mừng CN ngày 19/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhật Tin Mừng CN ngày 19/7/2020
"Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt" (Mt 13, 24-43).
Người dân ở Giáo xứ Sơn Lộc trước đây có Hợp Tác xã nông nghiệp chuyên trồng rau xanh, tôi xin kể câu chuyện trống cây bắp cải. Cây bắp cải là cây chịu nước nên phải tưới nước cho đầy đủ. Khi được tưới đủ nước cây lớn nhanh như thổi, đồng thời cỏ dại cũng chen theo mọc kín các luống trồng. Một hôm nhìn thấy cây cải bị cỏ mần trầu mọc chen vào giũa hai cây tốt nhất. Không chịu được, tôi đã nhổ cây cỏ lên, cây cỏ quá lớn khiến hai cây cải bị động rễ, tôi đã lấy nước tưới ngay vào gốc cây bắp cải để mau hồi phục rễ. Một tuần sau cả hai cây phát triển chậm hơn các cây khác. Nhìn các cây cải còn lại, cây nào cũng có cỏ mần trầu mọc chen vào, nhưng những chiếc lá cây rau lớn nhanh hơn, đã che phủ cây cỏ khiến cho cây cỏ không phát triển được.
Đức Giesu dùng dụ ngôn cây lúa và cỏ lùng thì cũng giống như bao cây khác. Cỏ lùng và lúa là hai cây đối trọi nhau, cây lúa mang lại lợi ích cho người nông dân, còn cỏ lùng gây hại cho họ. Chúng cùng mọc lên trên cùng một thửa ruộng, cùng hấp thụ dưỡng chất từ đất, ánh sáng, không khí để lớn lên.
Thế giới hôm nay vẫn còn đó những thửa ruộng, trong đó có người tốt xen lẫn kẻ xấu. Cái tốt xen lẫn với cái xấu. tệ hại hơn, cùng một con người, nhưng có lúc hành động tốt và có lúc hành động xấu.
Cảm nhận tin mừng: "Hãy cứ để cả hai mọc lên cho đến mùa gặt. Và đến mùa, ta sẽ dặn thợ gặt: "Các anh hãy nhổ cỏ lùng trước, rồi bó lại từng bó mà đốt đi, sau mới thu lúa lại chất vào lẫm cho ta". Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng con; Hãy kiên nhẫn đợi chờ. Vì chính Thiên Chúa đang kiên nhẫn chờ đợi để cho chúng con được ơn cứu độ.
Lạy Chúa. Chúng con đã thầm trách Chúa. Tại sao Chúa không ra tay diệt ác, cứu lành?
Giờ đây chúng con đã nhận ra Lòng Thương Xót của Chúa quá cao vời. Thiên Chúa nhẫn nại để chờ đợi chúng con hoán cải vì thời gian là điều kiện để có thể biến đổi. Xin cho chúng con được dần dần biến đổi từ xấu sang tốt. Amen.


9 Tháng Bảy
Tôi Tớ Thiên Chúa
Phanxicô Garcés và Các Bạn

(k. 1781)


Vì sự can thiệp của nhà cầm quyền trong các sứ vụ truyền giáo và vấn đề chiếm đất ở Tân Thế Giới đã khiến thổ dân da đỏ nổi dậy và Giáo Hội đã mất đi các nhà truyền giáo hăng say. Là người cùng thời với Chân Phước Junipero Serra và trong thời gian cuộc Cách Mạng Hoa Kỳ, Phanxicô Garcés sinh ở Tây Ban Nha năm 1738, và ngài gia nhập Dòng Phanxicô ở đây.

Sau khi thụ phong linh mục năm 1763, ngài được sai đến Mễ Tây Cơ. Năm năm sau ngài được bổ nhiệm về San Xavier del Bac gần Tucson, Hoa Kỳ, là một trong các trung tâm truyền giáo do các cha dòng Tên đã thành lập trước đây trong tiểu bang Arizona và New Mexico, mà sau đó, vào năm 1767, các cha dòng Tên đã bị trục xuất ra khỏi phần lãnh thổ thuộc quyền kiểm soát của vua Tây Ban Nha người Công Giáo.

Ở Arizona, Cha Phanxicô làm việc cho các thổ dân da đỏ người Papago, Yuma, Pima và Apache. Công cuộc truyền giáo đã đưa ngài vượt qua rặng Grand Canyon và đến tiểu bang California.

Cha Palou, người cùng thời với Cha Garcés, viết lại rằng Cha Garcés được người thổ dân rất quý mến, và ngài sống với họ trong một thời gian lâu mà không bị nguy hại gì. Họ thường đem thực phẩm cho ngài và mỗi khi gặp ngài, họ thường chào "Vạn Tuế Ðức Giêsu," là câu tung hô mà ngài đã dạy cho họ.

Ðể bảo vệ các thổ dân tân tòng, các nhà truyền giáo Tây Ban Nha dự định xây cất các trung tâm truyền giáo cách biệt với nơi trú đóng của binh lính và thực dân Tây Ban Nha. Nhưng quan chỉ huy ở Mễ Tây Cơ quyết định rằng hai trung tâm truyền giáo dọc theo sông Colorado, là Trung Tâm San Pedro y San Pablo và Trung Tâm La Purísima Concepcion, phải là nơi chung đụng giữa binh lính và thổ dân.

Một cuộc nổi dậy của người Yumas chống với binh lính Tây Ban Nha đã khiến các tu sĩ Juan Diaz và Matias Moreno từ trần ở Trung Tâm San Pedro y San Pablo. Các cha Phanxicô Garcés và Juan Barreneche bị giết ở Trung Tâm La Purísima Concepcion.


Lời Bàn

Trong thế kỷ 18, các thổ dân vùng Tây Nam Hoa Kỳ coi đạo Công Giáo và quyền lực Tây Ban Nha là một. Khi họ muốn loại bỏ quyền lực thì tôn giáo mới cũng phải ra đi. Chúng ta có dám chấp nhận những biến cải có thể chấp nhận được về đức tin Công Giáo của các dân tộc khác không? Chúng ta có bực mình về những phong tục của người Công Giáo trong các nền văn hóa khác không? Chúng ta có coi gương mẫu đời sống của chúng ta là một đóng góp cho công cuộc truyền giáo không?


Lời Trích

Trong chuyến tông du Phi Châu năm 1969, Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI nói với 22 người Uganda tân tòng rằng "trở nên một Kitô Hữu là điều tốt nhưng không luôn luôn dễ dàng."


Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn08:36

Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 18/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 18/7/2020
"Người cấm họ đừng cho ai biết Người, để ứng nghiệm lời đã phán" ((Mt 12,18).
Từ khi con người có mặt trên trái đất này, chưa có ngày nào là không có chiến tranh. Chiến tranh nơi bộ tộc, trong gia đình và ngay trong mỗi người. Bởi con người cư xử với nhau theo thế mạnh được yếu thua. Ai cũng muốn chiếm đoạt của cải thật nhiều. Ai cũng muốn thống trị người khác. Thú tính được tự tung tự tác khi có sức mạnh.
Đấng Thiên Sai là Đức Giêsu khi còn ở trần thế, luôn mong chờ và hy vọng mọi người trở về với Ngài để được cứu thoát. "Tôi đến để kêu gọi người tội lỗi ăn năn trở lại" Ngài kêu gọi mọi người hãy sống yêu thương nhau, hãy tha thứ cho nhau. Ngài kết luận: "Mến Chúa yêu người là giới luật quan trọng nhất".
Cảm nhận tin mừng: Lời Chúa hôm nay cho chúng con thấy ơn cứu rỗi luôn ở với chúng con. Chúa vẫn kiên nhẫn và ban ơn đầy đủ khi chúng con thành tâm trở về với Ngài.
Lạy Chúa. Chúa không giết chết, nhưng cứu sống. Chúa không đè bẹp, nhưng nâng dậy. Chúng con tạ ơn Chúa. Xin cho chúng con hết lòng trở về với Chúa để được ơn cứu độ. Amen.


Chân Phước Angeline ở Marsciano
(1374-1435)


Chân Phước Angeline là người sáng lập cộng đoàn nữ tu Phanxicô đầu tiên, nếu không kể dòng Thánh Clara Khó Nghèo.

Angeline là con của Công Tước xứ Marsciano. Khi 12 tuổi, ngài đã mồ côi mẹ. Ba năm sau, người thiếu nữ này thề giữ mình đồng trinh trọn đời. Tuy nhiên, cùng năm ấy, ngài vâng lời cha mà kết hôn với Công Tước xứ Civitella. Chồng ngài đồng ý tôn trọng lời thề của ngài.

Khi ông chồng từ trần vào hai năm sau, Angeline gia nhập dòng Phanxicô Thế Tục và cùng với các phụ nữ khác, ngài tận tụy trong việc chăm sóc người đau yếu, người nghèo, người goá phụ và trẻ mồ côi. Khi cộng đoàn của Angeline thu hút nhiều phụ nữ trẻ tuổi khác, thì một số người đã lên án ngài về tội phá hoại ơn gọi gia đình. Truyền thuyết kể rằng, khi phải trình diện vua xứ Naples để trả lời về sự cáo buộc ấy, ngài lấy chiếc áo khoác đang mặc mà bọc lấy mớ than cháy nóng. Khi ngài tuyên bố là mình vô tội và để chứng minh điều ấy, ngài mở áo khoác ra cho thấy mớ than nóng bỏng kia không gây thiệt hại gì cho ngài, và nhà vua đã bỏ qua vụ kiện.

Sau này Angeline và đồng bạn đã đến Foligno, là nơi cộng đoàn Dòng Ba của ngài được đức giáo hoàng chấp thuận vào năm 1397. Sau đó không lâu, ngài đã thành lập 15 cộng đoàn tương tự cho các phụ nữ ở các thành phố trong nước Ý.

Angeline từ trần ngày 14 tháng Bảy 1435 và được phong chân phước năm 1825.


Lời Bàn

Các linh mục và tu sĩ nam nữ không thể là dấu chỉ của tình yêu Thiên Chúa, nếu họ coi thường ơn gọi gia đình. Chân Phước Angeline tôn trọng hôn nhân nhưng cảm thấy được mời gọi theo một đường lối khác để sống Phúc Âm. Sự lựa chọn của ngài là hy sinh đời sống trong một phương cách độc đáo.



Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:30

Thứ Sáu, 17 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 17/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 17/7/2020
"Con Người cũng là chủ ngày sabbat" (Mt 12, 1-8).
Ngày Sa-bát là ngày chúa nhật theo tên gọi của người Do Thái. Vì thế ngày này không được phép làm bất cứ việc gì.
Hôm nay các môn đệ Đức Giêsu đi qua cánh đồng lúa chín, các ông cảm thấy đói, một vài ông bứt lúa mà ăn. Có mấy người thông luật nhìn thấy, họ cảm thấy khó chịu và lên tiếng phàn nàn với Đức Giesu: "Kìa, các môn đệ của Ngài làm điều không được phép làm trong ngày Sabbat".
Đức Giesu không vì bênh đỡ các môn đệ, nhưng đây là dịp để Ngài làm sáng tỏ các lề luật hơn.
Đã là luật thì không được luật này đè lên luật kia. ngày Sa-bát phải là ngày phục vụ con người, ngày sa bát phải được làm điều lành. Bình thường, một người đói phải được cho ăn dù đó có là ngày Sa-bát, một người đau phải được cứu chữa.
Đức Giêsu khiển trách người Pharisêu về sự quá coi trọng luật lệ của họ, đánh mất đi tình thương của Thiên Chúa đối với con người. Thiên Chúa cần sự yêu thương, tha thứ. Như Ngài đã nói: “Ta muốn lòng nhân chứ không cần lễ tế” (Mt 12, 7).
Cảm nhận tin mừng: Ngày Chúa Nhật là ngày của Chúa. Chúng con dành ngày này để làm việc bác ái, giúp đỡ những người túng thiếu, bần cùng.
Lạy Chúa, l Xin cho chúng con biết nhìn ra ý nghĩa của lề luật để chúng con tuân giữ trong tình yêu mến. Amen.

17 Tháng Bảy
Thánh Phanxicô Sôlanô
(1549-1610)


Thánh Phanxicô Sôlanô sinh ở Andalusia, Tây Ban Nha, theo học trường của các cha dòng Tên, và năm 1569, ngài gia nhập dòng Phanxicô Hèn Mọn. Sau khi thụ phong linh mục, với tất cả nhiệt huyết ngài thi hành mục vụ ở phía nam Tây Ban Nha trong việc cứu vớt các linh hồn. Trong thời gian có trận dịch ở Granada, ngài tận tụy chăm sóc các bệnh nhân và chính ngài cũng bị lây bệnh nhưng đã bình phục mau chóng.

Thanh Phanxico Rua Toi Mot Tu Truong Sau đó, ngài được sai đi truyền giáo ở Peru, Nam Mỹ. Khi gần đến Peru, con tầu bị bão và mắc cạn. Trong khi giông bão đang phá vỡ con tầu ra từng mảnh, mọi người được lệnh phải bỏ tầu bơi vào bờ thì Cha Phanxicô Sôlanô đã can đảm ở lại, cứu vớt những người nô lệ da đen còn kẹt trong khoang tầu. Ngoài một số bị chìm, tất cả đã được cứu thoát và đưa đến Lima, Peru.

Trong hai mươi năm ở các vùng mà bây giờ là Á Căn Ðình, Bovilia và Paraguay, ngài làm việc không ngừng nghỉ cho người thổ dân và người thực dân Tây Ban Nha.

Người ta nói rằng Cha Phanxicô Sôlanô có tài học tiếng bản xứ rất mau chóng, và sau một vài phép lạ ngài được dân chúng gọi là "người kỳ diệu của Tân Thế Giới". Một trong những thói quen của ngài, rất giống Cha Thánh Phanxicô, là chơi vĩ cầm cho các bệnh nhân thưởng thức và thường hát các bài mừng kính Ðức Mẹ trước bàn thờ.

Khoảng năm 1601, ngài được gọi về Lima, Peru, là nơi ngài cố gắng kêu gọi người thực dân Tây Ban Nha sống đức tin của mình. Ngài còn cố gắng bảo vệ người thổ dân khỏi bị áp bức. Ngài từ trần ở Lima và được phong thánh năm 1726.


Lời Bàn

Qua kinh nghiệm bản thân, Thánh Phanxicô Sôlanô biết, nhiều khi đời sống Kitô Hữu là một trở ngại lớn cho việc truyền giáo. Chính thánh nhân đã sống làm gương, và thúc giục người đồng hương Tây Ban Nha sống xứng đáng với ơn gọi khi được rửa tội.


Lời Trích

"Khi Cha Phanxicô Sôlanô đang hấp hối, một thầy trợ sĩ nói với ngài, 'Thưa cha, khi Chúa đưa cha lên thiên đàng, xin cha hãy nhớ đến con trong vương quốc vĩnh cửu ấy.' Với sự hân hoan, Cha Phanxicô trả lời, 'Thật đúng như vậy, cha sẽ vào thiên đàng nhưng đó là nhờ sự thống khổ và cái chết của Ðức Giêsu Kitô; cha chỉ là một người rất tội lỗi. Khi cha đến quê trời, cha sẽ là người bạn tốt của con'."


Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn04:51

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 16/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 16/7/2020
“Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng.” (Mt 11,29).
Từ 30 năm nay không còn ai nhìn thấy đôi quang gánh và đòn gánh, thay vào đó là những chiếc xe thồ, có thể thồ được 100 kg.
Việc gánh một trọng lượng 50 kg, người gánh thật vất vả, nhưng gánh một trách nhiệm có khi nặng hơn nhiều.
Những người khó nhọc và gánh nặng thường là những người dân thường, họ đơn sơ khiêm tốn. Thời ấy luật lệ lại quá tỉ mỉ, quá bất công. Những người thấp cổ bé họng cứ phải lầm lũi chịu lụy. Còn kẻ có địa vị lại khôn khéo tìm kẽ hở để được an nhàn. Gánh nặng đã đè năng lên vai những người bé mọn ấy.
Cảm nhận tin mừng: Tin mừng hôm nay, Đức Giêsu mời gọi chúng con hãy mang lấy “ách” và “gánh” của Ngài để được bình an và hạnh phúc, vì “ách” của Ngài thì êm ái và “gánh” của Ngài thì nhẹ nhàng. Hãy học với Ngài vì Ngài hiền hậu và khiêm nhường trong lòng.
Lạy Chúa, cuộc sống của chúng con có biết bao những lo, khiến chúng con mệt nhoài, chao đảo. Chúng con cậy dựa vào Chúa vì đã có Chúa đồng hành và nâng đỡ. Xin uốn nắn tâm hồn chúng con trở nên hiền lành và khiêm nhường trong lòng. Amen.


16 Tháng Bảy
Ðức Bà Núi Camêlô


Từ thế kỷ 12, ở núi Camêlô đã có các vị ẩn tu sống gần một suối nước mà Tiên Tri Elijah từng sinh sống ở đây. Họ xây một nguyện đường dâng kính Ðức Mẹ. Cho đến thế kỷ 13, họ được gọi là "Các Tiểu Ðệ của Ðức Bà Núi Camêlô." Sau đó, họ dành một ngày đặc biệt để mừng kính Ðức Maria. Vào năm 1726, ngày lễ ấy trở nên chính thức trong Giáo Hội hoàn vũ dưới tên Ðức Bà Núi Camêlô. Qua nhiều thế kỷ, các tu sĩ Camêlô tự coi mình có liên hệ đặc biệt với Ðức Maria. Các thần học gia và các thánh vĩ đại của dòng Camêlô thường cổ động lòng sùng kính Ðức Maria và bênh vực cho đặc tính Vô Nhiễm Nguyên Tội của Ðức Maria.

Thánh Têrêsa Avila gọi Dòng Camêlô là "Dòng của Ðức Trinh Nữ." Thánh Gioan Thánh Giá cho rằng Ðức Maria đã cứu ngài khỏi chết đuối khi còn nhỏ, đã dẫn dắt ngài đến dòng Camêlô và đã giúp ngài thoát khỏi tù ngục. Thánh Têrêsa Hài Ðồng Giêsu tin rằng Ðức Maria đã chữa ngài khỏi bệnh. Vào ngày Rước Lễ Lần Ðầu, ngài dâng mình cho Ðức Maria. Trong những ngày cuối đời, ngài thường nói về Ðức Maria.

Có một truyền thuyết nói rằng Ðức Maria đã hiện ra với Thánh Simon Stock, một bề trên Dòng Camêlô, và đã trao cho ngài một khăn choàng, bảo ngài hãy cổ động lòng sùng kính khăn ấy. Khăn choàng là một hình thức biến đổi của áo Ðức Bà. Nó tượng trưng cho sự bảo vệ đặc biệt của Ðức Maria và kêu gọi người mang khăn ấy hãy tận hiến cho ngài trong một phương cách đặc biệt. Hiển nhiên, điều này không có nghĩa được cứu chuộc một cách lạ lùng. Ðúng hơn, khăn choàng nhắc nhở chúng ta nhớ đến lời mời gọi của Phúc Âm là hãy siêng năng cầu nguyện và hãm mình đền tội -- là lời mời gọi mà Ðức Maria đã thể hiện một cách tốt đẹp nhất.


Lời Bàn

Ngay từ thuở ban đầu, các tu sĩ dòng Cát Minh thường được gọi là các "Tiểu Ðệ của Ðức Bà Camêlô." Danh xưng này có nghĩa, các ngài không chỉ coi Ðức Maria như một "người mẹ", mà còn là một "người chị". Chữ chị nói lên ý nghĩa Ðức Maria rất gần với chúng ta. Ngài là người con của Thiên Chúa và do đó có thể giúp chúng ta trở nên con cái xứng đáng của Thiên Chúa. Ngài còn giúp chúng ta quý trọng tha nhân như anh chị em mình. Ngài giúp chúng ta nhận thức rằng mọi người đều thuộc về một gia đình của Thiên Chúa. Chỉ khi nào mọi người đều tin tưởng như vậy thì nhân loại mới hy vọng tìm thấy con đường dẫn đến bình an.


Lời Trích

"Nhiều hình thức tôn sùng Mẹ Thiên Chúa mà Giáo Hội đã chấp nhận trong khuôn khổ giáo lý lành mạnh và chính thống, tùy theo khuynh hướng và sự hiểu biết của người tín hữu, để đảm bảo rằng, trong khi người mẹ được tôn vinh thì người Con cũng được nhận biết cách xứng hợp, được kính mến, được vinh danh và các giới răn của Người được tuân giữ, vì qua Người mà muôn vật được tạo thành (x. Col. 1:15-16) và trong Người mà Thiên Chúa Cha hài lòng vì tất cả được viên mãn nơi Người (x. Col. 1:19) (Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội, 66).


Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:25

Thứ Tư, 15 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 15/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 15/7/2020
"Chúa đã giấu không cho những người khôn ngoan biết những điều ấy, mà lại mạc khải cho những kẻ bé mọn" (Mt 11,25).
Những kẻ thông thái được Chúa Giêsu nói đến trong Tin Mừng là nhóm Biệt Phái, họ tự nhận là các bậc hiền triết, khôn ngoan, đang lãnh đạo các sinh hoạt tôn giáo ở Gierusalem. Họ là những kẻ chống đối Chúa.
Mọi sự tốt lành đều bắt nguồn từ Thiên Chúa. Người giàu có, kẻ khôn ngoan đều là hồng ân Thiên Chúa ban. Thường tình những người này không cần Thiên Chúa. Họ cho mình là kiến thức, là văn minh, họ nghĩ, họ có tiền là có tất cả không cần ơn cứu độ nào khác. Những người này buộc lòng Thiên Chúa phải loại trừ, vì họ không chịu đón nhận tình thương của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không có ý khiển trách các người giàu có hoặc thông thái, nhưng Ngài có ý cảnh tỉnh rằng những ai ỷ lại vào sự hiểu biết thông thái của mình, thì sẽ không đến được với Thiên Chúa.
Những kẻ bé mọn nói đến ở đây là những người sống khiêm tốn. Họ có thể là những người biết nhìn xa trông rộng vào sự việc chung quanh, họ sẵn lòng đón nhận sự thật thuộc về Chúa, một sự thật mà những người khác không có.
Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con đức tin. Xin giúp chúng con biết nhìn đúng sự thật, đừng để chúng con ảo tưởng. Xin cho chúng con biết khiêm tốn hơn, vì tất cả đều là hồng ân. Amen.

15 Tháng Bảy
Thánh Bônaventura

(1221-1274)


Thánh Bônaventura -- một tu sĩ Phanxicô, một thần học gia, một Tiến Sĩ Hội Thánh --vừa uyên bác và vừa thánh thiện. Vì nét linh đạo luôn luôn thể hiện nơi con người và văn bản của ngài, nên lúc đầu ngài được gọi là Tiến Sĩ Ðạo Ðức; nhưng trong các thế kỷ gần đây ngài được gọi là Tiến Sĩ Thánh theo gương "Cha Thánh" là Thánh Phanxicô, vì ngài sống tinh thần đích thực của một tu sĩ Phanxicô

Vào năm 1257, ngài được chọn làm bề trên Dòng khi mới ba mươi lăm tuổi và đã thành công trong việc hòa dịu các xáo trộn trong Dòng vì những bất đồng nội bộ. Ngài rất có công với Dòng và đã viết lại tiểu sử của Thánh Phanxicô. Ngài được Ðức Giáo Hoàng Clêmentê IV bổ nhiệm làm Tổng Giám Mục của York, nhưng ngài xin đừng ép buộc phải chấp nhận vinh dự ấy. Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô X đã buộc ngài phải chấp nhận một vinh dự cao hơn, đó là chức Hồng Y và Giám Mục của Albanô.

Vào sáng ngày 15 tháng Bảy 1274, trong khi Công Ðồng Lyon II đang khai diễn, Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô X và các giáo phụ trong Công Ðồng đã phải bàng hoàng khi nghe tin Ðức Bônaventura từ trần. Một người chép sử vô danh đã ghi lại cảm tưởng về ngài: "Một người uyên bác có tài hùng biện, và thánh thiện ngoại hạng, ngài nổi tiếng về sự nhân từ, dễ làm quen, hòa nhã và giầu lòng thương người. Với tất cả các đức tính ấy, ngài được Thiên Chúa yêu dấu và thực sự là một con người. Trong tang lễ của ngài, nhiều người đã nhỏ lệ, vì Thiên Chúa đã ban cho ngài một ơn sủng, đó là bất cứ ai biết đến ngài đều quý mến ngài một cách chân thành."


Lời Trích

"Hạnh phúc thì không gì khác hơn là vui hưởng sự Toàn Thiện, và vì sự Toàn Thiện ở trên chúng ta, nên chúng ta không thể có hạnh phúc nếu không vượt lên trên chính mình. Tự sức mình, chúng ta không thể siêu thoát nếu không có sự trợ giúp của quyền lực siêu nhiên mà quyền lực ấy đã hạ xuống thấp để nâng chúng ta lên. Dù đời sống nội tâm của chúng ta có tiến bộ như thế nào, điều đó không ích gì cho chúng ta nếu nỗ lực ấy không được sự trợ giúp từ trên cao. Thiên Chúa sẵn sàng cứu giúp những ai tìm kiếm với tâm hồn khiêm tốn và thành khẩn; điều này thực hiện được qua sự chân thành cầu nguyện.

"Như vậy, cầu nguyện là nguồn gốc của mọi hành trình tiến đến Thiên Chúa. Do đó, mỗi người chúng ta hãy trở về với đời sống cầu nguyện và thưa với Chúa: 'Lạy Chúa, xin hãy dẫn dắt con trên con đường của Chúa, để con có thể bước đi trong chân lý của Ngài.'" (Thánh Bônaventura)


Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:36

Thứ Ba, 14 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 14/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 14/7/2020
"Trong ngày phán xét, Tyro và Siđon sẽ được xét xử khoan dung hơn các ngươi" (Mt 11, 20-24).
Từ thời xa xưa (Cựu ước) Sôđôma, Gômôra, Babylon, Tyrô, Siđôn là những thành phố bị các tiên tri nguyền rủa nặng nề nhất, vì là nơi tội lỗi, sa đọa, của tự mãn, của tôn thờ bụt thần. Nhưng họ đã biết ăn năn, hối cải, nên họ xứng đáng được hưởng sự tha thứ của Thiên Chúa.
Tin mừng hôm nay tường thuật, ba thành phố Khôradin, Bétxaiđa và Caphácnaum là những thành phố lớn nằm gần bờ hồ Tibêria. Đây là những nơi mà dân chúng đã chứng kiến tận mắt những phép lạ, đã được nghe những lời giảng dạy của Đức Giêsu, nhưng rất ít kẻ tin nhận Ngài. Đức Giesu đã cảnh tỉnh các thành này vì Ngài rất thương các thành này.
Ngày nay văn minh càng tiến bộ, càng lôi kéo con người vào con đường sa đọa, hủy hoại nền tảng gia đình và xã hội, họ ảo tưởng và ngây ngô khi nghĩ rằng: “Một tay che kín cả bầu trời” hoặc "Bàn tay ta làm nên tất cả". Họ tự mãn với những phát minh khoa học. Đây là những lựa chọn sai lầm.
Cảm nhận tin mừng: Chúng con cần sám hối ngay tội lỗi mình để được hưởng ơn tha thứ. Phải từ bỏ ngay thái độ chai lỳ, vô ơn và bất kính trước những ơn lành mà Ngài đã ban xuống trên chúng con.
Lạy Chúa, xin tha thứ cho chúng con. Xin cho chúng con nhận ra thánh ý Chúa và mau mắn thi hành để không bị nghe khiển trách; "Còn ngươi, hỡi Paris, London ..., chớ thì ngươi nhắc mình lên tận trời sao? Ngươi sẽ phải rơi xuống địa ngục, vì nếu các phép lạ diễn ra giữa ngươi mà xảy ra tại Sôđôma, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay. Vậy Ta bảo thật các ngươi: Trong ngày phán xét, Sôđôma sẽ được xét xử khoan dung hơn ngươi". Amen.


14 Tháng Bảy
Thánh Kateri Tekakwitha

(1656-1680)


Máu các vị tử đạo là hạt giống nẩy sinh các thánh. Chín năm sau khi các linh mục dòng Tên là Cha Isaac Jogues và Jean de Brebeuf bị các thổ dân da đỏ Huron và Iroquois tra tấn cho đến chết, một bé gái đã chào đời gần nơi các vị tử đạo, ở Auriesville, Nữu Ước. Cô là thổ dân da đỏ đầu tiên thuộc vùng Bắc Mỹ được phong chân phước. Mẹ cô là một Kitô Hữu người Algonquin, bà đã bị người Iroquois bắt và buộc phải làm vợ của tù trưởng bộ lạc Mohawk, là bộ lạc dũng cảm và tàn bạo nhất trong Ngũ Quốc.

Khi lên bốn tuổi, Kateri mất cha mẹ và cả đứa em trai trong trận dịch đậu mùa mà chính cô cũng bị gần như mù và khuôn mặt bị méo mó. Cô được một người chú đem về nuôi sau khi ông lên kế vị cha cô làm tù trưởng. Ông không thích các tu sĩ A¨o Ðen nhưng ông không thể làm gì được vì một thỏa ước ký kết với Pháp, buộc phải có sự hiện diện của tu sĩ trong các làng có người Kitô Giáo bị bắt giữ. Kateri rất thích nghe các vị tu sĩ A¨o Ðen giảng thuyết, nhưng chú cô lại sợ rằng cô sẽ theo đạo Công Giáo. Thật vậy, khi lên 19 tuổi, sau khi từ chối lời cầu hôn của một thanh niên Mohawk, vào Chúa Nhật Phục Sinh, cô đã được rửa tội và lấy tên thánh là Kateri (Catarina).

Bây giờ cô bị đối xử như một người nô lệ. Vì cô không làm việc ngày Chúa Nhật nên cô không được lãnh thực phẩm trong ngày ấy. Ðời sống ơn sủng của cô gia tăng mau chóng. Cô nói với một vị thừa sai rằng cô thường suy niệm về ơn cao trọng khi được rửa tội. Cô rất cảm kích bởi tình yêu mà Thiên Chúa dành cho loài người và cô nhìn thấy phẩm giá nơi mỗi một người dân. Cô luôn luôn trong tình trạng nguy hiểm, vì sự trở lại đạo và đời sống thánh thiện của cô đã tạo nên sự chống đối dữ dội. Theo lời khuyên của một linh mục, một đêm kia cô bỏ trốn và đi bộ 200 dặm đến một làng da đỏ Công Giáo ở Sault St. Louis, gần Montreal (Gia Nã Ðại).

Trong ba năm, Kateri ngày càng thánh thiện dưới sự dẫn dắt của một linh mục và một bà người Iroquois. Cô hiến mình cho Thiên Chúa qua những giờ cầu nguyện, làm việc bác ái và tích cực ăn chay hãm mình. Từ sáng sớm cô đã đứng chờ nơi cửa nhà thờ để dự lễ lúc 4 giờ sáng và ở lại đó cho đến Thánh Lễ cuối cùng. Cô đặc biệt sùng kính Thánh Thể và Ðức Giêsu trên Thánh Giá.

Vào năm 23 tuổi, Kateri thề giữ mình đồng trinh, đó là một hành động bất thường của một phụ nữ da đỏ, là người chỉ sống nhờ vào chồng. Cô lập một cái chòi trong rừng vắng để cầu nguyện hàng ngày và bị dèm pha là để gặp gỡ một người đàn ông! Việc cô thề giữ mình đồng trinh là một hành động theo bản năng, vì cô không biết trong Giáo Hội có đời sống tu trì dành cho nữ giới, mãi cho đến khi cô đến Montréal. Thấy vậy, cô phấn khởi cùng với hai người bạn định tâm thành lập một tu hội, nhưng vị linh mục địa phương đã ngăn cản cô. Rất khiêm tốn, cô chấp nhận một cuộc sống "bình thường" mà trong đó, cô ăn chay hãm mình một cách khắt khe như để đền tội cho dân tộc của cô.

Vào ngày 7 tháng Tư 1680, cô từ trần vào buổi tối trước Thứ Năm Tuần Thánh, mới hai mươi bốn tuổi. Các nhân chứng cho biết, lúc ấy khuôn mặt hốc hác của cô đổi màu và tươi tắn như một đứa trẻ khỏe mạnh. Các nếp nhăn, ngay cả các vết rỗ trên khuôn mặt cũng biến mất và một nụ cười hé nở trên môi cô.

Người da đỏ gọi cô là "Hoa huệ người Mohawk". Sự ngưỡng mộ Kateri đã giúp hình thành các trung tâm truyền giáo cho người da đỏ ở Hoa Kỳ và Gia Nã Ðại. Kateri được phong chân phước năm 1980.


Lời Bàn

Chúng ta thường nghĩ đời sống thánh thiện bị cản trở bởi hoàn cảnh, và ước chi chúng ta có thêm thời giờ riêng tư, ít bị quấy rầy hay chống đối và được khoẻ mạnh hơn. Chân Phước Kateri đã chứng minh cho thấy, sự thánh thiện triển nở trên thập giá, ở bất cứ đâu. Tuy nhiên, ngài đã có những gì mà mọi Kitô Hữu phải cần, đó là sự hỗ trợ của một cộng đoàn.

Ngài có một người mẹ tốt lành, có các linh mục tận tình giúp đỡ và các bạn Kitô Hữu. Những điều kiện này được gọi là tiên khởi, và chỉ sinh kết quả nếu quyết tâm thi hành ba nguyên tắc cổ xưa của Kitô Giáo là cầu nguyện, ăn chay và bố thí: kết hợp với Thiên Chúa qua Ðức Giêsu Kitô và Chúa Thánh Thần, tự khắc phục con người của mình để vượt qua những đau khổ, và sống bác ái đối với anh chị em.


Lời Trích

"Tôi không cô đơn vì tôi đã tận hiến cho Ðức Giêsu. Ngài là tình yêu duy nhất của tôi. Tôi không sợ tình trạng bơ vơ nghèo nàn vì không lấy chồng. Tất cả những gì tôi cần là một chút thực phẩm và một vài quần áo. Với công việc tay tôi làm ra, tôi sẽ có những gì tôi cần, và những gì còn dư tôi sẽ cho người bà con và người nghèo. Nếu tôi bị bệnh và không thể làm việc được, tôi sẽ trở nên giống Chúa trên thập giá. Ngài sẽ thương xót tôi và giúp đỡ tôi. Tôi biết chắc như thế."


Trích từ NguoiTinHuu.com

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:25

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2020

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 13/7/2020

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 13/7/2020
"Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy”. (Mt 10,38).
Thầy giáo giơ khối Robik lên và hỏi học sinh; Các em thấy khối robik này màu gì?. Cả lớp thưa, Màu đỏ. Thầy nói, nhưng thầy thấy nó màu xanh.
Sự việc trên đời này cũng vậy. Người này nói đúng, kẻ khác lại bảo sai. Vậy ai nói đúng, ai nói sai?.
Bài Tin Mừng hôm nay làm cho người đọc có cảm tưởng một cái gì nghịch lý. Tại sao Ðức Giêsu không đem hòa bình mà lại đem chiến tranh?. Tại sao theo Chúa mà lại phải vác thập giá nặng?.
Khi theo Chúa, các môn đệ phải chấp nhận nhiều thua thiệt: họ có thể bị chống đối từ nhiều người ngoài xã hội và cả trong gia đình.
Vì các ông biết rằng: Thầy Giêsu đến để đem tình thương của Thiên Chúa đến cho loài người. Tình yêu ấy là hy sinh và phục vụ.
Để xứng đáng với Thầy, các ông phải trở nên giống Thầy và khi đã giống Thầy rồi, các ông xứng đáng được thấy Đấng đã sai Thầy.
Cảm nhận tin mừng: Lời Chúa hôm nay dạy cho chúng con phải biết chọn lựa. Khi đã chọn theo Chúa là điều tốt, phải kiên trì bảo vệ để đạt được sự bình an cho sau này.
Lạy Chúa, xin cho chúng con có một tâm hồn vững mạnh để chiến thắng với chính bản thân, để sẵn sàng bước đi theo Ngài. Xin đổ tình yêu Chúa xuống trên chúng con, để chúng con sống trung thành với Chúa và mọi người. Amen.


13 Tháng Bảy
Thánh Henry II
(972-1024)
Thánh Henry thuộc dòng dõi nhà vua mà cha là Công Tước xứ Bavaria, mẹ là công chúa xứ Burgundy. Ngay từ nhỏ, ngài được sự dạy bảo kỹ lưỡng của Thánh Wolfgang, là Giám Mục của Ratisbon. Năm 995, ngài kế vị cha làm Công Tước xứ Bavaria và năm 1002, sau khi người bác là Vua Otto III từ trần, ngài lên ngôi hoàng đế nước Đức.
Vua Henry rất để ý đến hạnh phúc của người dân. Để bảo vệ công chính, nhiều lần ngài phải dẫn quân đi chiến đấu với các kẻ thù ở trong cũng như ngoài nước. Các chiến thắng không làm ngài tự đắc trở nên vô tâm mà ngài rất độ lượng và khoan hồng với kẻ thù. Khoảng năm 998, ngài lập gia đình với một phụ nữ thánh thiện là Cunegundes. Sau này bà cũng được tuyên xưng là thánh. Vào năm 1014, cả hai người được ban thưởng cho danh hiệu hoàng đế và hoàng hậu của Thánh Đế Quốc Rôma. Đây là một vinh dự lớn lao vì chính Đức Giáo Hoàng Bênêđích VIII đã đội vương miện cho hai người.
Tuy thừa hưởng tất cả những giầu sang và quyền thế ở trong tay, Hoàng Đế Henry luôn nhớ đến các chân lý vĩnh cửu và suy niệm trong lòng. Thay vì đi tìm các vinh dự chóng qua của trần thế, ngài để ý đến những công việc làm vinh danh Thiên Chúa, trong đó sự thịnh vượng của Giáo Hội cũng như duy trì kỷ luật trong hàng giáo sĩ là điều ngài lưu tâm. Có lần ngài ao ước được từ chức để sống như một đan sĩ, nhưng theo lời khuyên bảo của đan viện trưởng ở Verdun, ngài đã ở lại ngôi vị.
Trong thời gian trị vì, ngài thành lập rất nhiều đoàn thể đạo đức, xây dựng nhiều cơ sở sinh hoạt tâm linh cũng như các đan viện và nhà thờ mới.
Ngài từ trần năm 1024, khi mới năm mươi hai tuổi và được phong thánh năm 1146.
Lời Bàn
Gương mẫu đời sống của Thánh Henry khiến chúng ta phải nhìn lại sự bận rộn của đời sống chúng ta. Có ai bận rộn bằng một ông vua, nhưng Hoàng Đế Henry vẫn dành thời giờ cho Thiên Chúa trong sự suy niệm và sinh hoạt đạo đức. Noi gương Thánh Henry, chúng ta nên sắp xếp thời giờ để hàng ngày trở về với nguồn sinh lực của chúng ta, là Thiên Chúa toàn năng.

Posted By Đỗ Lộc Sơn04:32