Thứ Hai, 29 tháng 4, 2019

SUY NIỆM HẰNG NGÀY - NGÀY 29-04-2019

Filled under:

LỜI CHÚA: Ga 3, 1-8
1 Trong nhóm Pha-ri-sêu, có một người tên là Ni-cô-đê-mô, một thủ lãnh của người Do-thái.2 Ông đến gặp Đức Giê-su ban đêm. Ông nói với Người: “Thưa Thầy, chúng tôi biết: Thầy là một vị tôn sư được Thiên Chúa sai đến. Quả vậy, chẳng ai làm được những dấu lạ Thầy làm, nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy.”3 Đức Giê-su trả lời: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.”4 Ông Ni-cô-đê-mô thưa: “Một người đã già rồi, làm sao có thể sinh ra được? Chẳng lẽ người đó có thể trở vào lòng mẹ lần thứ hai để sinh ra sao? “5 Đức Giê-su đáp: “Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí.6 Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt; cái bởi Thần Khí sinh ra là thần khí.7 Ông đừng ngạc nhiên vì tôi đã nói: các ông cần phải được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên.8 Gió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy.”
SUY NIỆM 1
Mùa Phục sinh là thời gian những người dự tòng lãnh bí tích Thanh Tẩy.
Tuy họ là những người đã lớn khôn trưởng thành,
nhưng bí tích Thanh Tẩy đưa họ vào một cuộc sống mới,
cuộc sống như trẻ thơ được sinh lại nhờ Thánh Thần.
Để bước vào cuộc đời này, cần có một người cha sinh ra mình.
Để vào Nước Thiên Chúa, con người cần được Cha trên trời sinh ra.
Con người có sự sống đời này khi Chúa còn ban hơi thở tự nhiên.
Con người có sự sống vĩnh cửu khi được Chúa ban Thần Khí.
Bài Tin Mừng hôm nay nói về sự sinh ra bởi Thần khí, sinh ra từ trên.
Trong đêm tối, ông Nicôđêmô, một vị chức sắc của Thượng Hội Đồng,
đến gặp Đức Giêsu, người mà ông kính trọng gọi là Rabbi.
Ông tin Thầy Giêsu đến từ Thiên Chúa, 
và vì Thầy có Thiên Chúa ở cùng nên Thầy mới làm được nhiều dấu lạ.
Có vẻ ông định hỏi Thầy về việc làm sao vào được Nước Thiên Chúa.
Đức Giêsu cho biết phải được sinh ra từ trên (anôthen).
Trong tiếng Hy-lạp, anôthen còn có nghĩa là lại, lần nữa.
Có lẽ vì thế mà Nicôđêmô tưởng là Đức Giêsu nói đến việc sinh lại.
Chính vì thế ông nêu lên thắc mắc :
“Một người đã già rồi, làm sao người ấy có thể được sinh lại lần nữa.”
Dĩ nhiên chúng ta không cần phải vào lòng mẹ lần thứ hai.
Nhưng kitô hữu thực sự phải là người đã được sinh ra bởi Thần Khí.
Tương tự như gió ở chung quanh ta.
Chúng ta chỉ có thể thấy những hậu quả của gió, nhưng không thấy được gió.
Người được sinh bởi Thần Khí cũng vậy.
Chúng ta cũng không rõ cách thức Thần Khí hoạt động nơi người ấy,
nhưng chúng ta nhìn thấy sự biến đổi sâu xa nơi cuộc đời mỗi người.
Mùa Phục sinh là thời gian của sự sống.
Chúng ta đã được sinh lại từ khi lãnh nhận Phép Rửa.
Hãy để cho sự  sống đó được làm mới lại và được lớn lên từng ngày.
Hãy để Thần Khí của Đấng Phục sinh nâng chúng ta lên cao,
để chúng ta thực sự là những người được sinh ra từ trên.
LỜI NGUYỆN 
Lạy Chúa Giêsu phục sinhxin ban cho con sự sống của Chúa,
sự sống làm đời con mãi mãi xanh tươi.
Xin ban cho con bình an của Chúa,
bình an làm con vững tâm giữa sóng gió cuộc đời.
Xin ban cho con niềm vui của Chúa,
niềm vui làm khuôn mặt con luôn tươi tắn.
Xin ban cho con hy vọng của Chúa,
hy vọng làm con lại hăng hái lên đường.
Xin ban cho con Thánh Thần của Chúa,
Thánh Thần mỗi ngày làm mới lại đời con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Suy Niệm 2

“Nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai thấy nước Thiên Chúa”. Với câu trả lời cho những băn khoăn của Nicôđêmô, Chúa Giêsu muốn ông hướng về một thực tại cần thiết để được sự sống vĩnh cửu nơi Thiên Quốc là cần được lãnh nhận sự tái sinh trong Chúa Thánh Thần. Điều này được thực hiện khi con người lãnh nhận bí tích Rửa Tội. 

Quả thế, con người thời nay bị cuốn hút bởi những đam mê của trần thế. Đó là đam mê đi tìm và hưởng thụ cuộc sống thực dụng - tìm kiếm và tích lũy cho mình thật nhiều của cải, danh vọng và quyền lực. Do đó, con người thời nay thật khó có thể vươn mình đến những thực tại của cuộc sống thần linh. 

Là người Kitô hữu, chúng ta đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, được Thiên Chúa tái sinh trong đời sống mới, được Chúa Thánh Thần biến đổi nên con cái của Chúa, của Giáo hội, chúng ta có vui mừng vì ân ban cao quý này không? Thánh Phaolô đã dạy: “Vậy nhờ thanh tẩy, ta đã được mai táng làm một với Ngài trong sự chết, ngõ hầu như Ðức Kitô, nhờ bởi vinh quang của Cha, mà được sống lại từ cõi chết, thì cả ta nữa, ta cũng bước đi trong đời sống mới” (Rm 8, 4). 

Lạy Chúa, Mùa Phục Sinh là thời gian thuận lợi để chúng con cảm nhận sự sống của Chúa được thông ban cho chúng con nhờ Chúa đã phục sinh. Xin cho chúng con biết chết đi cho tội lỗi mà sống cho Chúa, để chúng con được hạnh phúc luôn mãi. Amen.


GKGĐ Giáo Phận Phú Cường


LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG
VÀ BIẾN CỐ "SRI LANKA" ĐAU THƯƠNG

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - CỬ HÀNH LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

Ngay đầu tuần Thánh, thứ hai 15.4.2019, thông tin về Vương cung Thánh đường Đức Bà Paris, thủ đô Pháp quốc, bị cháy dữ dội đã làm hầu như cả thế giới ngẩn ngơ, tiếc nuối về một công trình vừa của đức tin Kitô giáo vừa là văn minh, văn hóa của cả nhân loại.

Tuy nhiên, dù đó là công trình đồ sộ, dù nơi đó đã chứng kiến nhiều biến cố và sự kiện lịch sử, dù đó là di vật của trí tuệ đã trải qua hàng thế kỷ, dù giá trị vật chất và tinh thần của nó hết sức lớn..., vẫn không bằng mạng sống của loài người. Chỉ cần sự sống của một sinh linh, đã vô giá. Vì thế, sự sống của hàng trăm con người không thể nói hết, không thể có bất cứ điều gì sánh ví...

Vậy mà chưa đầy một tuần, Chúa nhật 21.4.2019, ngay ngày đầu mùa tôn vinh Sự Sống, cũng là ngày lễ của Sự Sống, lễ mừng Chúa phục sinh, nhân loại lại chết điếng, từng người công chính như đứt từng đoạn ruột khi phải chứng kiến hàng trăm anh chị em đồng đạo bị thảm sát chỉ trong một ngày.

Sri Lanka nói chung, Thủ đô Colombo của nước này nói riêng, trở thành tên gọi vừa thân thương, vừa đau đớn tận cùng của mọi người công chính trên khắp thế giới khi nghĩ đến, hay chỉ cần nhắc đến.

Chúa nhật thứ II phục sinh, ngày cuối của tuần Bát nhật phục sinh, Hội Thánh Công giáo mừng lễ Chúa lòng thương xót trong bầu khí đau buồn về những cái chết hàng loạt vừa mới xảy ra đúng một tuần ấy.

Nhiều người tỏ ra bi quan về đức tin của chính mình. Có Chúa thật không? Những bi thảm diễn ra từng ngày gây nên đau khổ cho không biết bao nhiêu người, làm sao có thể gọi đó là lòng thương xót? Chưa biết có lòng thương xót không, nhưng sự dữ thì khắp thế giới đều chứng kiến. Sự dữ như sờ thấy được!

Là người Công giáo, chúng ta phải trả lời thế nào cho nhiều anh chị em xung quanh về tình yêu thương xót của Thiên Chúa giữa bối cảnh tan thương này? Hình như sự thật trở thành chướng ngại lớn làm cho các môn đệ của Chúa Kitô gặp khó khăn khi rao giảng về lòng Thiên Chúa xót thương?

Trước khi trả lời bất cứ sự gì, ta phải khẳng định dứt khoát và mạnh mẽ rằng, Thiên Chúa không làm ra sự dữ. Người không bao giờ muốn có sự dữ. Chính tấm lòng của Thiên Chúa không bao giờ muốn tấn công ai, không bao giờ muốn đẩy ai vào con đường cùng, nhưng chỉ ngự trị sự từ ái, tha thứ, bao dung.

1. Sự dữ xuất phát từ lòng người.
Biến cố quá bi thương của ngày Phục sinh là minh chứng rõ ràng về sự tàn ác mà con người dành cho nhau. Kẻ thủ ác giết người có tính toán, có hệ thống, có kế hoạch. Chúng hành động chính xác đến nỗi những nơi chúng thảm sát là thủ đô và vùng lân cận, là những nhà thờ lớn, trong chính ngày lễ trọng nhất của Kitô giáo, quy tụ đông tín hữu nhất, và giờ giấc các vụ nổ hầu như đồng loạt, chính xác trong cùng một giờ, hoàn tất mọi vụ nổ chỉ trong một ngày.

Điều đáng buồn hơn nữa là, dù biết trước cuộc thảm sát có thể xảy ra, nhưng chính phủ Sri Lanka không có bất cứ hành động nào để ngăn chặn. Họ giữ im lặng đến phút cuối. Họ không có một thông báo hay tuyên bố nào để người dân có thể đề phòng.

Nhờ sự im lặng đến lạ thường của chính phủ mà cuộc thảm sát đã diễn ra thành công đúng như kế hoạch của những kẻ thủ ác, khiến nhiều người nghi ngờ, ngay trong nội bộ quốc gia, có sự kỳ thị tôn giáo. Hay chính phủ cố tình làm ngơ trước những hành động nhằm thanh trừng Kitô giáo?

Sự ác xuất phát từ lòng người. Đó là điều Chúa Giêsu từng cảnh báo: "Từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" (Mc 7, 21-23).

Chính lòng người thù hận đã dẫn đến quá nhiều oan khuất, thê lương. Ngay thời khởi đầu vũ trụ, con người đã giết nhau: Cain giết chính em ruột mình là Abel. Rồi từ đó, lịch sử nhân loại đã chứng kiến không biết bao nhiêu cuộc giết hại từ lẻ tẻ đến hàng loạt một cách tàn bạo, đẫm máu, phi nhân tính...

2. Chúa Giêsu, nạn nhân của sự dữ.
Ta không thể hiểu vì sao Chúa không cất sự dữ. Nhưng ta biết chắc, tội ác trong lòng người đã không tha chính Con Thiên Chúa làm người.

Chúa Giêsu, Đấng đã bị loài người loại trừ, thì Thiên Chúa dùng chính sự chết và sống lại của Người để cứu độ loài người, cho phép những kẻ mang phận người cùng được phục sinh, được thừa hưởng cơ nghiệp vĩnh cửu của Người trong nhà Thiên Chúa, trong sự sống trường tồn của Thiên Chúa.

3. Vài điểm giáo lý.
- Sự dữ là vô cùng đáng sợ. Nhưng nhìn về khía cạnh tích cực, sự dữ nhắc nhở ta về thân phận yếu đuối, mỏng dòn của mình, để ta luôn sẵn sàng cho bất cứ lúc nào, nếu phải kết thúc hành trình đời mình.

- Dù Thiên Chúa không muốn sự dữ xảy ra. Nhưng trong trường hợp sự dữ đã xảy ra, Thiên Chúa có thể rút ra từ sự dữ, những điều tốt lành. Thậm chí, Người còn lấy ra từ sự dữ những giá trị thánh, giá trị hằng sống, giá trị cứu độ, giá trị vĩnh cửu... Chính cái chết của Chúa Giêsu là bằng chứng.

- Qua sự dữ mà ta đang phải đối mặt, Chúa có thể giáo dục ta như người cha dùng roi để đánh con mình. Qua sự dữ mà ta kiên trung chịu đựng, đức tin của ta mạnh mẽ hơn, lòng cậy trông vững vàng hơn, tình yêu mến ngày càng hoàn thiện hơn.

- Chúng ta cần ghi nhớ: Chúa công bằng vô cùng. Bởi khi một người gặp phải nhiều khổ đau ở đời này, họ sẽ không hoặc giảm việc đền tội mà họ phải gánh chịu ở đời sau.

Tôi tin rằng, Chúa có cách của Chúa để dành phần ưu ái, dành sự yêu thương cho những nạn nhân của những vụ thảm sát, kể cả khi họ qua đời hay còn sống. Nhất là những cuộc thảm sát diễn ra giữa lúc họ làm nghĩa vụ thờ phượng và đang biểu lộ cách cao nhất lòng tin tưởng vào Chúa trong thánh lễ Phục sinh mà họ đang tham dự.

- Trong Hội Thánh, giáo lý về đến tội thay là một giáo lý đẹp. Chúa Kitô vô tội đã đền tội thay cho cả loài người. Cũng vậy, biết bao nhiêu người hy sinh chính mình đền tội thay cho những kẻ tội lỗi. Và tất cả những người được chọn làm vật tế sinh, làm của lễ đền tội, Chúa sẽ có cách của Chúa để trả lại cách cân xứng những gì mà họ phải chấp nhận.

Vì thế, tôi tiếp tục tin rằng, chính vì tội lỗi của tôi, của mọi người, của cả thế gian này, mà nhiều anh chị em đã phải đau khổ. Nhìn vào những gì họ phải chịu, tôi nhận ra rằng, Thiên Chúa tố cáo tội ác của tôi nơi chính họ, để tôi sống tốt hơn, đẹp lòng Chúa hơn. Từng ngày sống trong đời, tôi phải phục sinh chính mình như Chúa muốn.

4. Nội dung Tin Mừng trong lễ kính Chúa lòng thương xót.
Tin Mừng khả dĩ giúp ta vững tin hơn. Thánh Gioan ghi nhận, có đến hai lần Chúa Phục sinh hiện ra với các tông đồ. Cả hai lần, Chúa đều mạc khải dấu thánh giá trên thân thể phục sinh của Người. Thậm chí, Chúa còn mời: “Tôma, hãy xỏ ngón tay của con vào lổ đinh trên tay Thầy đây, hãy thọc bàn tay của con vào cạnh sườn của Thầy”.

Chúa Kitô không tự nhiên mà phục sinh, nhưng phục sinh từ trong đau khổ, phục sinh từ trên thánh giá. Hôm nay, dù đã sống lại, đã chiến thắng khải hoàn, thân xác phục sinh chói ngời đã cùng quyền năng Thiên Chúa bước vào vô biên, bước vào vĩnh cửu, nhưng bây giờ hiện ra với môn đệ, thân xác phục sinh rạng ngời ấy vẫn còn y nguyên dấu của thánh giá.

Rõ ràng phục sinh không giết chết thánh giá. Chúa không xóa dấu tích thánh giá. Dấu thánh giá vẫn theo Chúa ngay cả khi Chúa đã phục sinh.

Bởi thánh giá vẫn còn nguyên vẹn trong ơn phục sinh, nên dù hôm nay Chúa đã phục sinh, thì cuộc đời vẫn còn đó đầy dẫy những khổ đau, những thách thức mà lòng người phải cam chịu.

Dù trải qua quá nhiều mất mát, tôi tin rằng lòng thương xót của Chúa mãi mãi vẫn chan đầy. Lòng thương xót đã từng trao ban trong quá khứ. Chắc chắn, lòng thương xót ấy như dòng suối cuồn cuộn chảy mãi, sẽ vững bền, sẽ trường tồn đến muôn đời.

Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:53

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 29/4/2019.

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng ngày 29/4/2019.
Chúa Giêsu đáp: "Thật, Tôi bảo thật cho ông biết, nếu không tái sinh bởi trời, thì chẳng ai được thấy Nước Chúa" (Ga 3, 1-8).
Ai cũng chỉ sinh ra làm người một lần trong đời, thế thì làm sao mà có tái sinh được?. 
Ông Nicôđêmô, là một người đứng đầu trong giới lãnh đạo Do-thái, ông đến gặp Đức Giêsu ban đêm để xin Người dạy bảo về Nước Thiên Chúa. Nhân dịp này Đức Giêsu đã nói cho ông biết là: Người ta không thể tái sinh bởi huyết nhục, nhưng có thể tái sinh bởi nước và Thánh Thần. Ai tái sinh bởi nước và Thánh Thần, mới được vào Nước Thiên Chúa.
Với con mắt đức tin, mọi người, ai cũng được Chúa Thánh Thần đón nhận và thúc bách: "Mình đã được sinh lại trong Chúa Ki-tô rồi, được trở nên con cái Chúa là mình sẽ được hưởng ánh hào quang thiên quốc trong ngày sau hết".
Lạy Chúa. xin ban Thánh Thần xuống trên chúng con. Ðể giúp chúng con biết bỏ đi con người cũ, mà sống một cuộc sống mới. Chỉ khi được tái sinh trong Chúa, chúng con mới sống đúng ý nghĩa mầu nhiệm phục sinh của Ðức Giêsu. Amen.



Thánh Catherine Siena
Tiến Sĩ Hội Thánh

(1347-1380)

Thánh Catarina, tên thật là Catarina Benincasa sinh ngày 25 tháng 3 năm 1347 tại Siena, Tuscany, Ý Đại Lợi và là người con út trong gia đình 23 người con. Ngay từ khi bảy tuổi, cô đã dâng hiến tâm hồn cho Ðức Kitô. Nơi cô sinh trưởng rất gần San Domenico, trung tâm truyền giáo của Dòng Ða Minh, và khi lớn lên cô bày tỏ ý muốn đi tu, nhưng gia đình lại muốn cô kết hôn. Ðể nói lên ý chí quyết liệt của mình, cô đã cắt tóc và sau cùng, với sự đồng ý của cha mẹ, Catarina gia nhập tổ chức Mantellate, là hội phụ nữ có liên hệ đến Dòng Ða Minh, họ mặc áo dòng nhưng sống ở nhà, phục vụ người nghèo và người đau yếu.
Cô sống ẩn dật trong một căn phòng nhỏ tại gia đình ở Siena. Trong vòng hai năm liên tiếp cô không bao giờ rời phòng, trừ khi đi xem lễ và xưng tội, và cũng không nói chuyện với một ai ngoại trừ cha giải tội. Trong thời gian này, Catarina tập luyện tinh thần qua lối sống khắc khổ.
Sau đó, cô tự phá vỡ đời sống cô độc và bắt đầu hăng say chia sẻ công việc trong nhà, săn sóc người bệnh và giúp đỡ người nghèo. Tuy nhiên cô vẫn dành thời giờ trong thinh lặng và chiêm niệm.
Dần dà, người ta nhận thấy dường như Thánh Catarina đọc được tâm hồn của họ và dân chúng thuộc đủ mọi thành phần – giầu và nghèo, tu sĩ và giáo dân, thợ thuyền và lính tráng – bắt đầu tuốn đến với ngài để được khuyên bảo. Từ đó một tổ chức tông đồ giáo dân được thành hình. Các lá thư của ngài, hầu hết là các lời khuyên bảo tinh thần và khuyến khích các người mến mộ, ngày càng được công chúng đón nhận.
Vì sự hòa đồng với người đời một cách không sợ sệt cũng như lời nói bộc trực và uy quyền của một người hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa, Thánh Catarina đã bị dị nghị và dèm pha. Nhưng mọi điều cáo buộc ngài đã bị bác bỏ trong Tổng Công Hội Dòng Ða Minh năm 1374.
Ngài có ảnh hưởng rất lớn vì sự thánh thiện hiển nhiên, cũng như vì ảnh hưởng sâu đậm đối với Đức Giáo Hoàng. Ngài làm việc không mệt mỏi cho cuộc thập tự chinh chống với người Thổ Nhĩ Kỳ và cho sự hòa giải giữa thành phố Florence và Đức Giáo Hoàng. Bà đã làm một công việc hết sức nguy hiểm là tìm cách giảng hòa các lãnh chúa và các đô thị thù nghịch và nhất là thúc giục Đức Giáo Hoàng ở Avignon dời đô về Roma.
Tất cả công việc ngài thi hành đều được thúc đẩy bởi ngọn lửa tình yêu. Cuộc sống của ngài luôn ẩn náu trong những vết thương của Chúa Kitô bị đóng đinh. Ngài cảm nhận trong thâm sâu của con tim và trong đức tin của ngài, những thảm họa của Giáo Hội và của xã hội ngài đang sống, vẫn còn tiếp tục đóng đinh Chúa Kitô.
Thánh Catarina đã phải trả giá và nhiều đến chừng nào! Ngài đã làm trung gian để đem lại hòa bình giữa các đô thị và giữa các phe nhóm thù nghịch. Hai lần ngài đến gặp Đức Giáo Hoàng Gregory XI ở Avignon như  là ngôn sứ của Chúa Kitô. Vì lòng yêu mến Giáo Hội ngài không hề lui bước trước mọi gian nan, ngài  làm cho các Hồng Y và Giám mục phải nể phục và ngài đã thúc đẩy được Đức Giáo Hoàng Gregory XI đời đô về lại Roma.
Ngài thành công trong việc thuyết phục Ðức Giáo Hoàng Grêgôriô XI trở về Rôma, nhưng không bao lâu đức giáo hoàng từ trần và Ðức Urbanô VI lên ngôi. Khi cuộc Ðại Ly Giáo bùng nổ, Ðức Urbanô VI mời Thánh Catarina đến Rôma, vì đức giáo hoàng cần sự hỗ trợ của ngài. Năm 1378, ngài đến Rôma và thường xuyên viết thư gửi các nhà lãnh đạo quốc gia và Giáo Hội để bảo vệ cho quyền giáo hoàng của Ðức Urbanô VI. Hàng ngày, ngài đi bộ đến Ðền Thánh Phêrô và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.
Một vài tuần trước khi chết, ngài đang cầu nguyện trước một bức khảm ở Ðền Thánh Phêrô, ngài trông thấy con thuyền của Thánh Phêrô như rời khỏi bức khảm và đậu trên vai của ngài. Con thuyền xô ngài ngã quỵ và người ta phải khiêng ngài về nhà. Ngài hầu như bất toại cho đến khi từ trần ngày 29 tháng 4  năm 1380, lúc ấy mới ba mươi ba tuổi.

Posted By Đỗ Lộc Sơn05:25

Chủ Nhật, 28 tháng 4, 2019

Phút cảm nhận Tin Mừng CN ngày 28/4/2019

Filled under:

Phút cảm nhận Tin Mừng CN ngày 28/4/2019
Chúa Giêsu nói với ông: "Tôma, vì con đã xem thấy Thầy, nên con đã tin. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!"(Ga 20, 31).
Từ khi Đức Giêsu không còn hiện diện với các tông đồ, các ông hoang mang. lo lắng lắm, nên thường gặp gỡ nhau để cầu nguyện, trông chờ ngày "Thầy sống lại" như lời Thầy đã nói.
Quả nhiên, Thầy đã sống lại thật. 
Ông Tôma là người không có mặt ngày hôm ấy, các bạn đã kể lại những gì Thầy nói, nhưng ông không tin.
Ông không tin vi: Tin Đức Giê-su sống lại không phải là điều dễ dàng chút nào. Ông không phải là người nhẹ dạ cả tin, nhưng của những người chín chắn, chân thành, thậm chí đòi phải nhìn thấy tận mắt. Sau khi đã được mắt thấy, tay rờ, ông có lời tuyên xưng cao nhất vào thần tính của Chúa: “Lạy Chúa con, lạy Thiên Chúa của con”.
Lạy Chúa.Nhờ có lời tuyên xưng vững chắc của thánh Toma mà chúng con có được lời chúc phúc từ Chúa: "Phúc cho những ai đã không thấy mà tin!". Nhờ đức tin, nhờ Lời Chúa soi dẫn, chúng con tin rằng Chúa luôn ở bên chúng con và nâng đỡ chúng con. Xin Chúa đến ngự giữa chúng con. Amen.


Ngày 28 tháng 04

THÁNH LUI MARIA MÔNPHO 
(1673-1716)
Mônpho trước đây chỉ là một thị xã không tên tuổi nằm dọc theo hai dòng sông Mơ và Garon; nhưng ngày nay Mônpho đã chiếm một vai trò quan trọng trong lịch sử Giáo hội Pháp. Mônpho đã sinh cho Giáo hội nhiều dòng tu, nhiều vị đại thánh: dòng thánh Giacôbê, dòng thánh Gioan, dòng thánh Nicôlao, dòng Lagiarít và cũng là nơi trú thân của thánh Vinhsơn Phêriê, dòng Giảng thuyết… Nhưng đặc biệt hơn cả, trên mảnh đất diễm phúc ấy, vào thế kỷ XVII, đã xuất hiện một ngôi sao chói sáng, soi khắp Giáo hội trong lãnh vực sùng kính Mẹ Thiên Chúa, đó là cha Mônpho tông đồ Thánh Mẫu.
Ông Gioan, thân phụ Mônpho là một người có thế giá trong xã hội; ông đã từng giữ chức trạng sư lâu năm tại thị xã Mônpho với rất nhiều huy chương, danh tiếng nhưng ít bổng lộc. Ông làm việc để nuôi cả gia đình, một gia đình khá đông miệng ăn. Nhưng bạn ông, bà Robert một thiếu phụ dệt vải thành Ren (Rennes), bà còn là chị của ba vị linh mục; với đức tính khiêm tốn, trầm lặng và tận tụy lạ thường trong việc giáo dục con cái.
Hai ông bà đã sinh hạ được mười tám mặt con; Lui Maria là trưởng. Trong số mười tám người con, chín người chết lúc còn nhỏ, bốn người đi tu dòng nữ và ba người dâng mình làm linh mục, mà một người là đại thánh của Giáo hội: thánh Lui Maria Ghinhong Mônpho. Thực là một gia đình phúc hậu cả về lượng lẫn về phẩm.
Vì gia cảnh túng thiếu lại là trưởng của gia đình, Lui phải đến ở thuê cho bà Anrêa là chủ trại. Chính ở trại này mà tâm hồn Lui đượm nét tươi sống: những cánh đồng lúa chín vàng, những buổi hoàng hôn ở đây, tất cả đều hiến cho Lui một bài chiêm niệm đầy yêu thương về Thiên Chúa.
Hai năm sau, Lui lại cùng gia đình đi đến miền Iffendic và năm 1679 Lui đựơc diễm phúc chịu lễ lần đầu. Còn gì hạnh phúc hơn cho cậu, vì là ngày mở màn đời say mê mến Chúa và Thánh Mẫu. Cha Picôt đã viết về lòng đạo đức của cậu như sau: "Lui lợi dụng mọi thời giờ để cầu nguyện và làm những việc đạo đức hy sinh. Tâm hồn cậu trinh bạch, mọi ước muốn chỉ qui hướng về Chúa. Vì thế tâm hồn cậu là một trong những tâm hồn thấm nhuần hồng ân Thiên Chúa. Chỉ có Chúa mới có thể dạy con trẻ đơn sơ ấy biết cầu nguyện…" Nhưng một điểm nổi nhất trong tâm hồn thánh thiện của Lui là lòng sùng kính Trinh Nữ Maria.
Mùa thu năm 1685, Lui được gửi học tại trường thánh Tôma là trường do các cha Dòng Tên sáng lập và điều khiển. Cậu học cần mẫn và luôn đứng đầu lớp. Đi đôi với sức học là tính đơn sơ vui vẻ và dễ thông cảm của cậu. Lòng sùng kính Đức Mẹ càng ngày càng phát triển rõ rệt; Lui thích đọc sách nói về Đức Mẹ mà cậu gọi là "Bà chủ các tâm hồn". Với Đức Mẹ, cậu đã học ở Phúc âm tinh thần bác ái chân thực. Việc đứng ra tổ chức lạc quyên giúp một bạn nghèo cùng lớp là một trong những bằng chứng nói lên lửa bác ái hằng nung nấu tâm hồn cậu.
Cũng nhờ ánh sáng Phúc âm và ơn phù trợ của Đức Mẹ, Lui đã tìm được ơn gọi làm linh mục cho Chúa, cho Mẹ và cho các linh hồn. Năm 1692, Lui mãn khóa triết học trường thánh Tôma. Dù nhận biết rõ ơn gọi, nhưng người thanh niên ấy không khỏi phân vân lo ngại vì kinh tế gia đình eo hẹp. Lui yên lặng cầu nguyện mặc cho Chúa lo liệu… Chúa đã dun rủi cho một thiếu phụ thuộc xứ Xuân bích, cô Montigi nhận chịu mọi phí tổn cho Lui vào học tại đại chủng viện Xuân-bích. Sau một ngày đường thấm mệt, Lui được cha Giám đốc đón nhận với điều kiện phải giúp việc thêm trong nhà để thay học phí. Dù phải học nhiều, công việc lại có phần vất vả, thầy Lui vẫn vui vẻ. Thầy sống hoàn toàn tin tưởng vào Chúa Quan phòng và Đức Trinh Nữ "bản mệnh". Vì sớm cảm nhận đời sống thánh thiện và khả năng học vấn của thầy, mùa thu năm sau, bề trên đã gọi thầy chịu bốn chức nhỏ. Sau đó bề trên lại đổi thầy đi Montaigu. Tại đây thầy bị bêïnh sốt rét và phải đi tĩnh dưỡng lâu ngày tại "dưỡng đường Thiên Chúa". Thời gian chịu bệnh cũng là thời gian thầy Lui tỏ ra cho mọi người, nhất là các vị bề trên, thấy rõ chí khí sắt đá và lòng mến yêu đến cực độ của thầy đối với Thiên Chúa và Mẹ Maria. Vì thế sau ngày rời khỏi bệnh viện, mùa xuân năm 1695, thầy được Đức Giám mục thành Nantes chính thức nhận vào hội Xuân-bích. Hân hoan như nai khát gặp nước trong, thầy Lui cố gắng sống những năm thần học thánh thiện. Và ngày 5-6-1700 là ngày hạnh phúc nhất đời thầy: thầy thụ phong linh mục và làm lễ mở tay tại bàn thờ Đức Mẹ Đồng Trinh tại thánh đường Xuân-bích. Ghi lại ngày chịu chức thánh và lễ đầu tay của cha Mônpho, cha Blain phải nghẹn bút chỉ còn viết lại được ba lần câu: "Đó là một thiên thần trên bàn thánh".
Nhưng giờ hạnh phúc nhất, giờ thụ phong linh mục và làm lễ mở tay dưới cặp mắt Mẹ hiền, cũng là giờ mở màn 16 năm truyền giáo của cha Mônpho. Biết Chúa Quan phòng không muốn cha đưa bước đến những nơi truyền giáo xa xăm, mà  ngay từ thiếu thời cha vẫn mong ước được tới, như Ấn Độ, Nhật Bản và Mỹ Châu v.v... cha đành vâng lệnh bề trên về coi giáo đường thánh Clêmentê tại Pictaria. Cha biến Pictaria thành trung tâm truyền giáo, mở rộng vương quyền Chúa Giêsu trong các tâm hồn nhờ Mẹ Maria.
Cha làm việc không biết mệt. Suốt ngày hết giờ này đến giờ khác cha liên tiếp dạy đạo lý, tập hát và điều động các hội đoàn. Để việc truyền giáo được phát triển sâu rộng và có nhiều kết quả, cha đã lập nhiều hội đoàn, huấn luyện nhiều cán bộ xuất sắc đủ năng lực làm việc tông đồ giáo dân. Đoàn thể nổi tiếng hơn cả là hội các Trinh nữ. Hội dành riêng cho các thanh thiếu nữ mà điều kiện gia nhập là phải khấn giữ mình trinh khiết trong thời gian ít nhất là một hay hai ba năm. Hội đã cung cấp nhiều hội viên cho các dòng, nhất là dòng "Con cái Đấng khôn ngoan". Từ hội Trinh nữ lại nẩy ra chi nhánh khác gồm những phần tử trung kiên mang danh là "Hội đền tạ". Hơn thế, cha còn cộng tác với cha Poullat des Places lập hội "Anh em Chúa Thánh Thần" với mục đích huấn luyện các chủng sinh thành những linh mục làm chiến sĩ của Đức Mẹ sau này. Với bầu nhiệt tông đồ và lòng yêu mến Đức Mẹ, chính cha còn sáng lập dòng "Thừa sai Đức Mẹ".
Quả thế, ngay năm đầu tiên đời truyền giáo, cha Mônpho đã ôm ấp nguyện vọng lập dòng "Linh mục thừa sai của Mẹ". Nguyện vọng ấy cha đã bày tỏ với cha linh hướng của cha như sau: "… Lạy cha, con tha thiết xin Chúa và Đức Mẹ cho con đủ sức lập hội dòng linh mục khó khăn và thánh thiện, luôn hăng hái chiến đấu dưới bóng cờ Trinh Nữ Maria…" Sau bao năm vất vả và cầu nguyện, ý nguyện của cha đã được Thiên Chúa và Mẹ chuẩn nhận: ngày 28-04-1716 dòng ra đời với bảy thầy và hai linh mục. Tinh thần và hoạt động căn bản của dòng là cổ động phong trào "nô lệ Mẹ" với khẩu hiệu "Nhờ Mẹ đến với Chúa" và "Nước Mẹ trị đến để nước Chúa vinh quang".
Thêm vào ước vọng lập dòng "Linh mục thừa sai của Mẹ", cha Mônpho còn kiên chí xin Chúa và Đức Mẹ giúp đỡ để lập một dòng nữ nữa là "Dòng con cái Đấng khôn ngoan". Thực ra cha Mônpho đã gieo giống ngay từ khi bước chân về Pictaria; và cha phải đợi cho đến ngày 02-02-1703 mới tìm được một "cột trụ" đầu tiên cho dòng mới, đó là cô Lui Trichet. Cô đã được cha trao áo dòng và đặt tên là Maria Luisa Giêsu. Bông hoa thứ hai của dòng là cô Catarina Brunet, một thiếu nữ đạo đức trong hội Trinh nữ mà cha đã lập tại bệnh viện Pictaria. Hợp ý với vị sáng lập, hai chị dòng mới này vững tâm cầu nguyện xin Chúa tăng đông số con cái của Chúa, nếu Chúa muốn. Sau 13 năm mong chờ, ngày 20-8-1715 nhờ sự huấn luyện chu đáo của chị Maria Luisa Giêsu, cha Mônpho đã sung sướng nhận lời hứa và trao áo dòng cho một số đông các chị em. Thế là Chúa đã nhận lời cầu xin của cha Mônpho và các con cái ngài. Chị em dòng "Con cái Đấng khôn ngoan" đã chính thức ra mắt sau một tuần tĩnh tâm lĩnh ơn Chúa Thánh Linh và sức hộ vực của Đức Trinh Nữ Maria. Tinh thần của dòng thu gọn trong câu "Tất cả nhờ Mẹ đến với Chúa". Với tinh thần ấy các chị lĩnh sứ mạng giáo dục thiếu nhi, thăm nom người nghèo khổ, coi sóc các bệnh nhân, và nhất là tôn sùng Thánh Thể và Đức Mẹ Vô Nhiễm.
Những hoạt động truyền giáo ấy, những hy vọng lập dòng kia phải chăng là hiệu quả của ngọn lửa say mến Mẹ Đồng Trinh mà cha Mônpho đã từng ôm ấp? Phải, đúng như lời cha thường nói: "Tất cả nhờ Mẹ, nhờ Mẹ để làm chiến sĩ của Chúa Kitô". Hiểu rõ như thế, cha đã tìm mọi cách huấn luyện cho đoàn con nam nữ mặc lấy tinh thần của Mẹ; cha đã rao giảng rất nhiều về kinh Mân Côi. Người ta đã có lý khi tán dương cha là Đaminh thứ hai của tràng Mân Côi. Hơn thế cha đã phát động nhiều phong trào: Tôn Vương, Tận hiến và Nô lệ tình yêu. Lòng yêu mến Mẹ đã ăn sâu vào tâm hồn cha ngay từ khi cha còn là một chủng sinh, tình yêu đó hằng nung nấu tâm can cha khiến nhiều lần cha phải thốt ra: "Ôi! Bao giờ, hạnh phúc ấy mới đến, giờ Mẹ Thiên Chúa được làm chủ, làm Nữ Vương mọi tâm hồn, mọi con tim". Ý nghĩa việc tôn vương cũng như đường lối tận hiến và học thuyết nô lệ tình yêu Mẹ ấy, cha đã khéo ghi lại trong cuốn sách: Thành thực sùng kính Mẹ, và Bí mật Mẹ Maria. Hai cuốn sách này đã mang tinh thần yêu Mẹ của cha Mônpho đến cho mọi dân tộc, mọi tâm hồn. Những học thuyết Thánh mẫu ấy ra đời thật như những thanh củi khô làm cháy mạnh ngọn lửa yêu của Mẹ trong tâm hồn các tín hữu.
Càng yêu Chúa và mến Mẹ, cha Mônpho càng dễ thông cảm với lớp người xấu số. Cha hằng lưu tâm giúp đỡ họ cả về tinh thần lẫn vật chất. Còn gì tỏ tình yêu hơn cho bằng việc cha quì xuống hôn các vết thương của họ rồi lau nhẹ nhàng. Cha yên ủi họ bằng lời nói, bằng chính đời sống, nhất là bằng cách mang Chúa và Mẹ đến cho họ. Nối tiếp bước đường của cha là đoàn con đông đảo của hai dòng tu và các hội đoàn cha đã sáng lập với chủ đích thăm nom và yên ủi lớp người xấu số đó.
Con tim dễ thông cảm và tế nhị của cha như đã đòi được Chúa ban phép lạ cứu chữa nhiều người bệnh tật. Phải chăng đó cũng là những hồng ân Chúa muốn tán thưởng cha ngay khi còn ở trần thế. Mùa thu năm 1713 tại Rochelle cha đã đặt tay lên trán một hài nhi gần chết, làm dấu Thánh giá và cứu em khỏi bệnh. Cũng tại đây, năm 1708, cha đã chữa thầy giáo Phêrô khỏi cơn trọng bệnh. Nhưng yên ủi cho cha hơn cả là những lần được hạnh phúc đàm đạo với Đức Trinh Nữ Maria. Vì lòng khiêm nhường, cha Mônpho muốn giữ kín, nhưng Chúa lại muốn tỏ cho mọi người biết. Năm 1708, một thiếu phụ thành Năng (Nantes) đã trông thấy cha Mônpho đang đi dạo và nói truyện với một Bà trắng và sáng chói. Rồi từ ngày 05-04-1716, một thanh niên đạo đức lại được diễm phúc thấy cha quỳ đàm đạo với một Trinh Nữ; chàng thanh niên đã hỏi cha và cha đáp: "Cha nói truyện với Trinh Nữ Maria, Mẹ hiền của cha".
Đọc biết những thành công truyền giáo và những hồng ân đặc biệt Chúa đã ban cho cha Mônpho, chúng ta đừng vội tưởng đời cha hoàn toàn sung sướng, luôn đi trên hoa và nhung lụa đâu. Chúa cũng không muốn đặt cha ra ngoài công luật "lửa thử vàng gian nan thử đức". Quả thế, đời truyền giáo của cha là đời tận hiến, nghĩa là đời tử nạn. Cha thiếu thốn đủ thứ, mọi phương tiện. Nếu có những người nghe theo và ủng hộ cha thì cũng không thiếu những người phản đối cha. Họ đả đảo cha và cho cha là điên dai, là "lạc đạo". Chính vì nhiều lần bị tấn công phũ phàng trong năm 1709 mà cha đã phải sang tận Rôma trình bày tự sự với Đấng đại diện Thiên Chúa. Đức Giáo Hoàng Clêmentê XI đã âu yếm yên ủi và khuyến khích cha. Trước khi từ biệt người con, Đức Thánh Cha còn tặng cha danh hiệu "Giáo sĩ thừa sai". Địch thủ mạnh nhất chống đối cha là phái Giăngsêniô, cha đã dùng tài lợi khẩu, nhất là đời sống ăn chay cầu nguyện để chiến đấu với họ hầu bảo vệ chân lý đức tin. Sau cùng người chiến sĩ của Mẹ đã lĩnh phần thắng với danh hiệu "búa sắt đập tan phái Giăngsêniô".
Nhìn thấy trước những đau khổ ấy, cha Mônpho đã sớm nhận lấy thánh giá làm khí giới chiến đấu độc nhất. Với thánh giá và vì thánh giá, cha đã tha thứ cho những tên lính mưu toan sát hại cha tại Rochelle, những người thuộc phái Canvanh muốn đầu độc cha và cả một "bà lớn" đã dám vác gậy đánh cha vì đã nói phạm đến tính nết cô con gái của bà… Cha đã lập nhiều hội, với mục đích phổ biến tinh thần "khổ giá" trong đời sống tông đồ, thực không quá đáng lời người ta mến tặng cha "con người của thánh giá".
Vào năm 1716, cha đến giảng tuần đại phúc tại Năng (Nantes) nhưng mới sau bài giảng khai mạc cha ngã bệnh. Dù bệnh liệt giường cha vẫn không ngừng làm việc, nhất là cầu nguyện và đọc Kinh thánh. Cha chịu bệnh vừa được một tuần thì ngày 28-04-1716, Chúa đã cất cha về giữa lời kinh của đoàn con đông đúc. Lễ an táng cha cử hành rất trọng thể. Xác cha được đặt dưới bàn thờ Đức Mẹ, các giáo hữu thi nhau đến cầu nguyện. Họ coi cha như một vị thánh. Nơi đây Chúa đã làm nhiều phép lạ vì lời bầu cử của cha thánh. Bên cạnh mồ của cha, người ta dựng một bia đá khắc bài tán dương sự nghiệp của cha, tóm tắt như sau: "Đối với cha, chết là bắt đầu sống". Quả thế, hợp theo lòng sùng kính chân thành của giáo dân, mỗi ngày một lên cao, ngày 07-09-1838, Đức Thánh Cha Grêgôriô XVI đã tôn cha lên bậc Đáng kính. Tiếp đó, ngày 29-01-1888, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII lại nâng cha lên bặc Chân phúc. Và sau cùng, ngày 20-07-1947, ngày vinh hiển nhất của cha Mônpho, Đức Piô XII tôn cha lên bậc Hiển thánh.
Cha Mônpho quả là một trong những tảng đá kiên cố nhất của nền lâu đài học thuyết Thánh Mẫu, thế kỷ XX. Ước gì chúng ta hãy theo gương thánh nhân mà nuôi lòng sùng kính nhiệt thành đối với Đức Mẹ để rồi nhờ Mẹ chúng ta đến với Chúa.




THÁNH PHÊRÔ CHANEL LINH MỤC
(1803-1841)

Phêrô Chanel sinh ngày 12-7-1803 tại Cuet. Hồi nhỏ, Phêrô Chanel chăn chiên quanh vùng Belley. Một linh mục chú ý tới ngài, lo dậy dỗ và đưa ngài vào chủng viện Brou. Ngày 15-7-1827 ngài được thụ phong linh mục. Trước hết ngài được bổ nhiệm làm phó xứ Ambère, sau đó làm cha sở Crozet. Năm 1831, ngài nhập hội dòng Maria và đi truyền giáo ở Châu úc.
Thánh nhân tới đảo Futuna với cha Maria Nizier, tại hòn đảo hoang vẫn còn tập tục ăn thịt người này, ngài đã dốc toàn lực mở mang nước Chúa. Một tu sĩ phụ tá luôn sát cánh với nhà truyền giáo đã kể lại như sau:
"Làm việc dưới sức nóng nung của ánh sáng mặt trời, ngài trở về nhà ướt đẫm mồ hôi, đói khát, nhọc mệt, nhưng vẫn vui tươi nhanh nhẹn, tâm hồn sảng khoái như vừa trở về từ một nơi hạnh phúc. Đây không phải chỉ có một lần mà dường như ngày nào cũng vậy".
"Ngài không từ chối người dân Futuna điều gì cả. Đối với những ai bắt bớ ngài, ngài luôn luôn tha thứ và không khước từ họ, dù cho họ có dốt nát hủ lậu đi nữa. Ngài luôn hiền dịu đối với mọi người".
Thật không lạ lùng gì khi dân chúng gọi ngài là "người phúc hậu". Chính ngài đã thường nói với các bạn:
- "Trong cuộc truyền giáo khó khăn thế này, chúng ta phải thánh thiện mới được".
Rao giảng Chúa Kitô và Phúc âm, ngài đã chỉ nhận được những kết quả nhỏ nhoi. Dầu vậy, ngài cũng xác quyết rằng việc truyền giáo là việc của loài người và đồng thời cũng là của Thiên Chúa nữa. Gương và lời Chúa đã nói: "Người lo gieo và kẻ khác sẽ gặt", nên thánh nhân luôn nỗ lực rao giảng giáo lý Kitô giáo và chống lại việc sùng bái của các thần dữ. Nhiệt tình của ngài đã gây nên nhiều ghen ghét đe dọa tới chính mạng sống ngài. Hôm trước ngày qua đời thánh nhân còn nói:
"Kitô giáo được gieo trồng trên đảo sẽ không bị tiêu diệt với cái chết của tôi, vì đây không phải là việc của loài người mà là của Thiên Chúa.
Ngày 28-4-1841, thánh Phêrô Chanel bị sát hại. Nhưng ít lâu sau toàn thể dân đảo Futuna đã trở lại đạo công giáo, đức tin từ Futuna lấn sang các đảo lân cận ở Châu Úc và thánh Phêrô Chanel được tôn kính như một vị tử đạo tiên khởi.

Posted By Đỗ Lộc Sơn06:08

Thứ Bảy, 27 tháng 4, 2019

SUY NIỆM HẰNG NGÀY - NGÀY 27/04/2019

Filled under:

Lời Chúa: Mc 16, 9-15

Sau khi sống lại vào lúc tảng sáng ngày thứ nhất trong tuần, Đức Giêsu hiện ra trước tiên với bà Maria Mácđala, là kẻ đã được Người trừ cho khỏi bảy quỷ. Bà đi báo tin cho những kẻ đã từng sống với Người mà nay đang buồn bã khóc lóc. Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin. Sau đó, Người tỏ mình ra dưới một hình dạng khác cho hai người trong nhóm các ông, khi họ đang trên đường đi về quê. Họ trở về báo tin cho các ông khác, nhưng các ông ấy cũng không tin hai người này. Sau cùng, Người tỏ mình ra cho chính Nhóm Mười Một đang khi các ông dùng bữa. Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy. Người nói với các ông: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo.”
Suy niệm 1  
Theo các nhà chú giải, sách Tin Mừng Máccô kết thúc ở chương 16, câu 8, 
với việc các phụ nữ sợ hãi, chạy trốn, không dám nói gì với các môn đệ. 
Sách này cũng không nói đến việc Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp các ông. 
Kết thúc khác thường này của Máccô làm chúng ta ngày nay chưng hửng. 
Cả các Kitô hữu thế kỷ thứ hai cũng bị ngỡ ngàng, 
vì vào thời đó họ đã có trong tay các sách Tin Mừng khác. 
Các sách này đều kể chuyện các phụ nữ đã đi gặp các môn đệ, 
chuyện Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp các bà trước tiên; 
rồi sau đó, Ngài đã hiện ra với các môn đệ 
và sai các ông đi loan báo Tin Mừng (Mt 28,19-20; Lc 24, 46-48; Ga 20, 21).
Để giải quyết khó khăn do phần kết của sách Tin Mừng Máccô đặt ra, 
một tác giả được ơn linh hứng đã viết thêm phần phụ lục (Mc 16, 9-20), 
dựa trên các sách Tin Mừng khác và sách Công vụ Tông đồ. 
Năm 1546, phần này đã được Công đồng Trentô nhìn nhận là Lời Chúa. 
Bài Tin Mừng hôm nay nhấn mạnh đến thái độ không tin của các môn đệ.
Đức Giêsu phục sinh hiện ra trước tiên cho bà Maria Mácđala. 
Bà đi báo tin Thầy sống lại cho những môn đệ đang buồn bã khóc lóc, 
nhưng họ không tin (cc. 9-11). 
Lần thứ hai, Đức Giêsu tỏ mình cho hai môn đệ khi họ trên đường về quê. 
Khi hai ông này báo tin cho những môn đệ khác, thì họ cũng không tin (cc. 12-13). 
Lần thứ ba, Đức Giêsu đích thân tỏ mình cho nhóm Mười Một. 
Ngài khiển trách họ về tội không tin những kẻ đã thấy Ngài phục sinh (c. 14).
Xem ra tin Thầy Giêsu phục sinh không phải là chuyện dễ, ngay cả đối với các môn đệ,
dù họ đã được nghe Thầy báo trước nhiều lần khi còn sống bên Thầy, 
dù có những người trong nhóm làm chứng mình đã thấy Thầy sống lại. 
Ở lại trong nỗi thất vọng, buồn phiền thì dễ hơn sống lạc quan vui tươi. 
Các môn đệ không ra khỏi được nỗi đau do cái chết của Thầy. 
Có những nỗi đau làm con người khép kín và khoanh tay bất động. 
Nhưng Đức Giêsu phục sinh vẫn không bỏ rơi các học trò cứng cỏi của mình. 
Ngài kiên trì chinh phục họ bằng cách đến với họ và dùng bữa. 
Ngài đưa họ ra khỏi thế giới nhỏ bé của họ và giao cho họ một sứ mạng lớn lao. 
“Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (c. 15).
Tin Đức Giêsu phục sinh cũng không dễ đối với chúng ta hôm nay. 
Nếu thực sự tin vào sự phục sinh ở đời sau, chắc chúng ta sẽ sống khác. 
Thanh thoát hơn, nhẹ nhàng hơn, quảng đại hơn, vui tươi hơn… 
Nhiều khi chúng ta vẫn loan báo Tin Mừng với vẻ mặt buồn bã, 
vẫn nói về đời sau mà lòng còn quá nặng với vinh hoa đời này. 
Chỉ mong chúng ta được thực sự phục sinh như Thầy Giêsu, 
để làm tròn sứ mạng Thầy trao phó.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa phục sinh,
vì Chúa đã phục sinh
nên con thấy mình chẳng còn gì phải sợ.
Vì Chúa đã phục sinhnên con được tự do bay cao,không bị nỗi sợ hãi của phận người chi phối,
sợ thất bại, sợ khổ đau,
sợ nhục nhã và cái chết lúc tuổi đời dang dở.
Vì Chúa đã phục sinh
nên con hiểu cái liều của người Kitô hữu
là cái liều chín chắn và có cơ sở.
Cái liều của những nữ tu phục vụ ở trại phong.
Cái liều của cha Kolbê chết thay cho người khác.
Cái liều của bậc cha ông đã hiến mình vì Đạo.
Sự Phục Sinh của Chúa là một lời mời gọi
mang một sức thu hút mãnh liệt
khiến con đổi cái nhìn về cuộc đời :
nhìn tất cả từ trên cao
để nhận ra giá trị thực sự của từng thụ tạo.
Sự Phục Sinh của Chúa
giúp con dám sống tận tình hơn
với Chúa và với mọi người.
Và con hiểu mình chẳng mất gì,
nhưng lại được tất cả.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

SUY NIỆM 2

Đây là thời gian chúng ta vui mừng sống trong vinh quang khải hoàn của Chúa Kitô. Chúa Cha siêu tôn Chúa Kitô và đặt Người làm Chúa các chúa, Vua muôn vua. Giờ đây Chúa Kitô bắt đầu cuộc sống mới: Cuộc sống vượt không gian và thời gian; cuộc sống vinh thắng trên sự chết. 

Từ nay, Người làm chủ sự chết, không còn lệ thuộc vào sự chết. Muôn đời Chúa Kitô, Chúa chúng ta không còn phải chết nữa. Ngày Chúa phục sinh đánh dấu sự chiến thắng của Người trên mọi thế lực hoả ngục, tội lỗi và sự chết.

Khi hân hoan sống trong ngày chiến thắng của Đấng Phục Sinh, mỗi người chúng ta được kêu gọi cố gắng vươn tới một con người mới như Người. Sống con người mới như Chúa Kitô Phục Sinh là chúng ta trở lại sống ơn bí tích Thánh Tẩy: Hãy làm lại đời sống như chiếc áo trắng mà chúng ta lãnh nhận trong ngày rửa tội. Hãy làm cho đời sống chúng ta như ngọn nến cháy sáng mà chúng ta đón lấy trong ngày được ơn tái sinh. 

Để sống được như thế, điều cơ bản là chúng ta hãy tránh xa tội lỗi, hãy sống thánh thiện như Cha trên trời là Đấng Thánh. Đừng bao giờ làm nô lệ cho tội lỗi, cho dù có gặp những thuận lợi về tiền bạc, danh lợi hay quyền thế. Sống như thế là chúng ta đang tự chết đi cho con người cũ và ích kỷ, để bắt đầu sống một con người mới như Chúa Kitô Phục Sinh.

Lạy Chúa Phục Sinh, xin ban Thánh Thần Chúa trên chúng con, để chúng con biết can đảm từ bỏ con người quá khứ. Nhờ đó chúng con sẽ khởi hành làm lại con người mới theo hình ảnh thánh thiện của Chúa.  Amen.

GKGĐ Giáo Phận Phú Cường


Thánh Zita de Lucca
(1218-1278)

Thánh Zita còn được gọi là Sitha hay Citha. Ngài sinh năm 1218 tại Monsagrati trong một gia đình nghèo nhưng rất đạo đức ở Lucca, nước Ý. Từ 12 tuổi cho đến chết, ngài làm đầy tớ cho gia đình Fatinelli giàu có ở Lucca. Vì không có địa vị trong xã hội nên ngài không có tên họ.
Ngay từ khi còn nhỏ, Zita đã lưu tâm đến những người nghèo và bơ vơ. Lòng thương người ấy ngày càng nổi tiếng, và họ tìm đến ngài. Điều ấy không phù hợp với hoàn cảnh của một đầy tớ cũng như khiến gia chủ phải khó chịu. Và Thiên Chúa đã can thiệp. Một ngày kia, Zita bỏ dở công việc nấu nướng để chăm sóc người nghèo và các đầy tớ khác đã lên mách với gia chủ. Khi xuống bếp điều tra, họ nhìn thấy các thiên thần đang làm công việc bếp núc thay cho Zita. Một lần khác, Zita đã phân phát cả một kho chứa đậu cho những người trong phố khi nạn đói hoành hành. Khả nghi, gia chủ xuống xem xét và lạ lùng thay họ thấy kho vẫn đầy những hạt đậu.
Ngày tháng dần trôi, ngài trở nên nổi tiếng trong việc giúp đỡ người nghèo, người đau yếu và kẻ tù đầy. Ngài qua đời ngày 27 tháng 4 năm 1272, ngay sau khi chết, nhiều phép lạ đã xảy ra nhờ lời cầu bầu của ngài, người ta đã sùng kính ngài như một vị thánh. Mộ phần của ngài được tìm thấy năm 1580 trong nhà thờ ở  San Frediano.
Danh xưng thánh được Đức Giáo Hoàng Innocent XII chính thức trao ban cho ngài ngày 05 tháng 9 năm 1696 và tên của ngài được Đức Giáo Hoàng Benedictus XIV cho ghi vào danh bộ tử đạo La Mã (The Roman Martyrology) năm 1748. Thánh Zita là quan thầy của các người giúp việc trong nhà.
Lời Bàn
Chúng ta thường nói, “Bạn không thể đem theo của cải với mình khi chết.” Nhưng người ta vẫn e ngại khi làm việc từ thiện vì họ sợ tài sản của họ sẽ tiêu tan, dù đó là thời giờ, tiền bạc hay sức lực. Thánh Zita được vinh danh là vì lòng bác ái của ngài. Ngài có thể tự so sánh mình với những người giầu có và bào chữa cho sự ích kỷ của mình. Nhưng ngài đã sống lời Đức Kitô trong câu truyện về người goá phụ nghèo (xem Luca 21:1-4).
Lời Trích
“Vì vậy chúng ta hãy bác ái và khiêm tốn; chúng ta hãy bố thí vì của bố thí sẽ tẩy sạch vết nhơ tội lỗi trong linh hồn chúng ta (xem Tobia 4:11; 12:9). Vì người ta sẽ mất tất cả những gì họ để lại trần gian mà chỉ đem theo được các phần thưởng của hành động bác ái và bố thí mà họ đã cho đi, vì đó mà họ sẽ được Chúa thưởng công và được đền đáp xứng đáng” (Thánh Phanxicô, Thư Gửi Người Tín Hữu).

Posted By Đỗ Lộc Sơn06:14